Cửa Hẹp Và Đường Chật

Sự Sống Đời Đời (11)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnTransmitter site road 06

Bản in PDF   

Ta Phải Vào Cửa Hẹp Và Đi Trên Đường Chật

Trong hai bài giảng trước tôi đã giải đáp hai thắc mắc rất quan trọng, ấy là: Những Tín Đồ Cơ Đốc vẫn sống trong tội lỗi có được hưởng sự sống đời đời không? Tại sao chỉ làm điều lành vẫn không được hưởng sự sống đời đời? Hôm nay chúng ta học tập về một khía cạnh khác. Sau khi ta trở thành Tín-Đồ Cơ Đốc rồi, ta bắt đầu cuộc sống mới cùng với Chúa Trời Gia-vê và Chúa Giê-su, ấy chính là sự sống đời đời trên thế gian này. Trong cuộc sống mới này có một điều ta cần phải để ý.

Ma-thi-ơ 7:13 – 14. 13 Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14 Nhưng cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.

Căn cứ theo câu nói này của Chúa Giê-su, hễ ai muốn được sự sống thì phải vào cửa hẹp và đi trên con đường chật, vì con đường chật dẫn đến sự sống, nhưng rất ít người kiếm được cái cửa hẹp và đường chật này. Phần đông người đời thì vào cửa rộng và đi trên đường khoảng khoát, nhưng con đường khoảng khoát chỉ dẫn đến sự hư mất thôi.

Tại sao chỉ có rất ít người kiếm được cái cửa hẹp và đường chật này? Cửa hẹp và đường chật là đại diện cho cái gì? Còn cửa rộng và đường khoảng khoát lại đại diện cho cái gì? Bây giờ chúng ta đi tìm giải đáp cho những thắc mắc này từng bước một.

Tiếp tục đọc

Ta Đến Để Cho Bày Chiên Được Sự Sống Dư Dật

Bài Giảng Luận Lễ Giáng Sinh (2)

Giăng 10:10

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền

Ta đến để cho bày chiên được sự sống dư dật
Ta đến để cho bày chiên được sự sống dư dật

 Bản in PDF 

Bạn Có Từng Suy Ngẫm Về Ý Nghĩa Của Sự Ra Đời Của Chúa Giê-su Không? 

Hồi nhỏ khi tôi học tiểu học ở Việt Nam, nhà trường có nhiều ngày nghỉ, nào là Lễ Giáng Sinh, Lễ Thăng Thiên, Lễ Đức Phật v.v. Hồi đó tôi còn chưa tin vào Chúa Trời Đức Gia-vê và Chúa Giê-su, gia đình tôi theo Đạo Phật và thờ cúng ông bà tổ tiên. Tôi không hiểu biết gì về lời dạy của Chúa Giê-su, tôi chỉ biết Lễ Giáng Sinh là ngày kỷ niệm sinh nhật của Chúa Giê-su, Lễ Đức Phật là ngày kỷ niệm Đức Phật, còn Lễ Thăng Thiên lại kỷ niệm chuyện gì thì tôi hoàn toàn không hiểu.

đọc tiếp

Chúa Giê-su Đến Để Cứu Vớt Dân Mình Ra Khỏi Tội Lỗi

Bài Giảng Luận Lễ Giáng Sinh (1)

Ma-thi-ơ 1:21

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Con trẻ Giê-su và người chăn chiên
Con trẻ Giê-su và người chăn chiên

 Bản in PDF 

Bất cứ bạn có phải là Tín-Đồ Cơ Đốc hay không, nhưng bạn chắc biết rằng Lễ Giáng Sinh là ngày lễ kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giê-su, Con của Chúa Trời. Nhưng Chúa Giê-su đến thế gian để làm gì? 

Sự Ra Đời Của Chúa Giê-su 

Ngày nay phần đông người ta trên thế giới đều biết ít nhiều về sự ra đời của Chúa Giê-su, cho dù những người không tin vào Chúa Trời và Chúa Giê-su cũng từng nghe qua một chút về sự ra đời của Chúa rồi. Nhưng phần đông chúng ta chỉ nghe được một chút chỗ này một chút chỗ kia thôi, chứ không biết rõ toàn bộ câu chuyện này. Hôm nay tôi sẽ trình bày cho các bạn tất cả những sự việc liên quan đến sự ra đời của Chúa Giê-su, hầu cho bạn có thể thấy rõ toàn bộ của sự kiện kỳ diệu quan trọng nhất trong lịch sự loài người. 

Tiếp tục đọc

Nô Lệ Của Công Nghĩa (1)

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (8)

 Rô-ma 6:18

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnArchitecture 34

Bản in PDF  

Tín Đồ Cơ Đốc Là Nô Lệ Của Công Nghĩa

Trong mấy kỳ trước chúng ta đã tra khảo một vài danh hiệu của Tín Đồ Cơ Đốc: Tay đánh lưới người, muối của đất, sự sáng của thế gian, môn đồ, con chiên, nhánh của cây nho. Hôm nay chúng ta tra khảo một danh hiệu mới

Rô-ma 6:18. 18 Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên nô lệ của sự công nghĩa rồi.

Câu Kinh Thánh này dạy rằng sau khi chúng ta được buông tha khỏi tội lỗi thì ta trở nên nô lệ của công nghĩa. Xin các bạn nhớ rằng chỉ khi chúng ta ăn năn hối cải, phó thác cuộc đời của mình hoàn toàn cho Chúa Trời, rồi chịu phép báp-tem, thì chúng ta mới được buông tha khỏi tội lỗi. Như vậy có nghĩa là khi chúng ta trở thành Tín Đồ Cơ Đốc thì chúng ta trở nên nô lệ của công nghĩa.

Các bạn có ngạc nhiên không? Trong xã hội ngày nay đâu có nô lệ nữa! Hơn nữa chúng ta tưởng rằng khi chúng ta được buông tha khỏi tội lỗi thì ta được tự do rồi, nhưng tại sao lại trở thành nô lệ của công nghĩa? Mà nô lệ của công nghĩa là cái gì? Bây giờ để tôi giải thích cho các bạn từng bước một.

Tiếp tục đọc

Phước Cho Những Kẻ Than Khóc

Ma-thi-ơ 5:4

Bài giảng của Bà Mục Sự Châu Huệ Hiền

Phước cho những kẻ than khóc vì sẽ được yên ủi !

Bản in PDF   

Kỳ trước chúng ta đã tra khảo Ma-thi-ơ 5:3, hôm nay chúng ta tra khảo câu Kinh Thánh kế tiếp.

Ma-thi-ơ 5:4 4 Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!

đọc tiếp

Tại Sao Chỉ Làm Điều Lành Vẫn Không Được Hưởng Sự Sống Đời Đời?

Sự Sống Đời Đời (10)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnMui Wo 01

(Tải xuống bản in PDF)   (Tải xuống bản nghe MP3)

Câu Chuyện Của Một Người Bác Gái Hiền Lành

Tôi bắt đầu bài giảng hôm nay bằng một câu chuyện thiệt. Có một bác gái là con người rất hiền lành, bác suốt đời hết lòng hết sức trông nom người chồng và các con cái trong gia đình. Hồi đó bác không tin ở Chúa Trời Gia-vê và Chúa Giê-su, bác theo truyền thống gia đình thờ cúng ông bà tổ tiên. Bác có ba đứa con gái và một đứa con trai út. Cả gia đình thương yêu nhau rất hạnh phúc. Con gái trưởng của bác thi vào đại học, sau khi ra trường cô này trở thành một giáo sư trung học. Nhờ bạn bè giúp đỡ hướng dẫn cô này nhận biết Chúa Trời và Chúa Giê-su, cô trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc. Cô mong rằng ba má và mấy đứa em của mình cũng tin vào Chúa Trời và Chúa Giê-su. Cô thường kể cho họ nghe về ơn cứu chuộc của Chúa Trời. Nhưng cả gia đình không ai chịu tin cả. Một hôm bác gái cảm thấy thân thể không lành, bèn đi coi bác sĩ, thì bác sĩ cho biết là bác đã mắc bịnh ung thư. Cả gia đình hoảng sợ, họ dẫn bác đi coi bác sĩ này bác sĩ kia để tìm cách chữa trị. Nhưng bịnh của bác càng ngày càng nặng, bác sĩ nói là ung thư của bác đã phát triển đến giai đoạn sau cùng. Cả gia đình đều lo lắng và khóc lóc. Ngoại trừ con gái trưởng ra, người chồng và các con cái đều đi cầu xin thần này thần nọ để chữa bịnh cho bác. Con gái trưởng là Tín Đồ Cơ Đốc, cô này chỉ cầu xin Chúa Trời giúp đỡ người mẹ tin vào Ngài và Chúa Giê-su trước khi mẹ qua đời. Cô này khuyên mẹ hãy phó thác cuộc đời của mình cho Chúa Trời đi, rồi mẹ sẽ được hưởng ơn cứu chuộc.

Bác gái không có nói gì, nhưng bác bắt đầu ngẫm nghĩ rằng Chúa Trời và Chúa Giê-su này có phải thiệt hay không vậy ? Một đêm bác nằm mơ thấy một người mặc áo trắng, tuy không thấy rõ mặt mũi của người ấy, nhưng bác cảm nhận được ngay lập tức tình thương xót vô biên của người. Suốt đời bác chưa từng gặp một người hiền lành nhân từ như thế. Bác biết ngay rằng người ấy là Chúa Giê-su, bác cảm nhận được Chúa thương bác lắm. Bác cảm thấy mình tựa như biến thành một đứa con gái nhỏ trước mặt Chúa, bác xúc động quá mà khóc lên. Chúa Giê-su đến nắm lấy tay của bác và nói với bác rằng: “Con đừng có khóc, con hãy dọn dẹp hành lý, ta sắp dắt đưa con trở về nhà kìa!”

Tiếp tục đọc

Nhánh Của Cây Nho

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (7)

Giăng 15:5

Bài giảng của Bà Mục Sự Châu Huệ Hiền Miscellaneous 02

Bản in PDF

Tín Đồ Cơ Đốc Là Nhánh Của Cây Nho 

Hôm nay chúng ta sẽ tra khảo một danh hiệu khác của Tín Đồ Cơ Đốc. 

Giăng 15:5. 5 Ta là cây nho, các ngươi là nhánh. Ai ở trong ta và ta ở trong người thì người ấy kết được nhiều quả; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được. 

Trong đoạn Kinh Thánh này Chúa Giê-su so sánh chính mình với cây nho và các môn đồ của Chúa là nhánh nho. Nếu ta ở trong Chúa và Chúa cũng ở trong ta, tựa như nhánh nho dính liền với cây nho vậy, thì ta sẽ kết được nhiều quả. Nếu ta rời xa Chúa thì tựa như nhánh nho tách rời cây nho, chúng ta không làm chi được. 

Chúa Giê-su muốn giảng dạy ta điều gì ? Chúng ta phải làm gì mới xứng đáng được gọi là nhánh của cây nho? 

Tiếp tục đọc

Phước Cho Những Kẻ Nghèo Khổ Trong Tâm Linh

Ma-thi-ơ 5:1 – 3

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền

Phước cho những kẻ nghèo khổ trong tâm linh!

Bản in PDF  

Đại Ý Sơ Lược Của Đoạn Kinh Thánh Ma-thi-ơ 4:12 – 25

Kỳ Trước chúng ta đã tra khảo sự kiện ma quỉ cám dỗ Chúa Giê-su, hôm nay chúng ta tra khảo đoạn Kinh Thánh kế tiếp. Khi Chúa Giê-su nghe tin rằng Giăng Báp-tít đã bị bỏ tù rồi, thì Chúa rời đến thành phố Ca-bê-na-um của xứ Ga-li-lê. Ở đó Chúa Giê-su khởi sự truyền giảng Tin Lành, Chúa dạy rằng: “Các ngươi hãy ăn năn, vì vương quốc Thiên Đàng đã đến gần.” (Xin đọc bài giảng “Giăng Báp-tít Dọn Đường Của Chúa Giê-su” để hiểu rõ ý nghĩa của ăn năn hối cải). Một hôm Chúa Giê-su đang đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, Chúa thấy Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ, cùng với em là Anh-rê, họ đang thả lưới dưới biển. Chúa kêu gọi hai anh em này: “Các ngươi hay theo ta, ta sẽ khiến cho các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” (Xin đọc bài giảng “Tay Đánh Lưới Người” để hiểu rõ ý nghĩa của “Tay Đánh Lưới Người”). Chúa Giê-su đi khắp xứ Ga-li-lê, Chúa đi vào các nhà hội để rao truyền Tin Lành của vương quốc Chúa Trời, và Chúa còn chữa lành mọi thứ bịnh tật trong dân chúng.

Tám Phước Lành Trong Bài Giảng Trên Núi

Bây giờ chúng ta bắt đầu tra khảo Ma-thi-ơ 5. Lời dạy của Chúa Giê-su trong Tin Lành theo Ma-thi-ơ có thể chia làm 5 bộ phận, mà chương 5, 6 và 7 chính là phần thứ nhất trong nguyên bộ lời dạy của Chúa.  Ba chương này được gọi là “Bài giảng trên núi”.

Trong 3 chương này Chúa Giê-su giảng dạy về những đức tính của người dân của vương quốc Chúa Trời. Các nhà học giả Kinh Thánh cho rằng Ma-thi-ơ chương 5, 6 và 7 là Hiến Pháp của vương quốc Chúa Trời. Trong Tân Ước, Tín Đồ Cơ Đốc là người dân của vương quốc Chúa Trời, cho nên chúng ta phải hiểu rõ lời dạy trong 3 chương này, rồi chúng ta mới có thể sống một cuộc sống xứng đáng là người dân của vương quốc Chúa Trời.

Tiếp tục đọc

Những Tín Đồ Cơ Đốc Vẫn Sống Trong Tội Lỗi Có Được Hưởng Sự Sống Đời Đời Không?

Sự Sống Đời Đời (9)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnHong Kong 06

 

Bản in PDF

Một Điểm Thắc Mắc Rất Quan Trọng

Trong mấy kỳ trước chúng ta đã tra khảo về các khía cạnh của sự sống đời đời hiện bây giờ trên thế gian này:

  • Liên hệ giữa sự sống đời đời hiện bây giờ và sự sống đời đời trong tương lai.
  • Sự sống đời đời là nhận biết Chúa Trời chân thật duy nhất cùng Chúa Giê-su Christ.
  • Sự sống đời đời là cuộc sống tự do.
  • Sự sống đời đời là cuộc sống công nghĩa.
  • Sự sống đời đời là cuộc sống bình yên.
  • Sông nước hằng sống chảy ra từ trong lòng.

Hôm nay chúng ta sẽ tra khảo về một điểm thắc mắc rất quan trọng, đó là sau khi chúng ta trở thành Tín Đồ Cơ Đốc rồi, nếu chúng ta vẫn tiếp tục sống trong tội lỗi, thì chúng ta có được hưởng sự sống đời đời không?

Tiếp tục đọc

Con Chiên

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (6)

Giăng 10:27

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền Cedar Lodge 08

Bản in PDF   

Tín Đồ Cơ Đốc Là Con Chiên Của Chúa Trời

Giăng 10:27.27Chiên ta nghe tiếng ta, ta nhận biết chúng, và chúng theo ta.” 

Trong đoạn Kinh Thánh này, Chúa Giê-su so sánh những người Tín-Đồ của Chúa với con chiên (tức là con cừu). “Chiên ta” tức là “Tín-Đồ của ta”. Hôm nay chúng ta sẽ tra khảo cái danh hiệu “con chiên”. 

Trong Cựu Ước của Kinh Thánh, người dân của Chúa Trời Gia-vê được gọi là con chiên của Chúa Trời, và Chúa Trời chính là kẻ chăn chiên. Chúa Giê-su là Con của Chúa Trời, tất cả sự trọn vẹn toàn hảo của Chúa Trời Gia-vê là ở trong Chúa Giê-su. Chúa Trời Gia-vê ở trong Chúa Giê-su và phán truyền qua Chúa Giê-su. Khi chúng ta đi theo Chúa Giê-su tức là đi theo Chúa Trời Gia-vê. Bởi vậy trong Tân Ước, Tín Đồ của Chúa Giê-su là con chiên của Chúa Trời, và Chúa Giê-su là người chăn chiên.

Tiếp tục đọc

Chúa Giê-su Bị Ma Quỉ Cám Dỗ (2)

Ma-thi-ơ 4: 5 – 11

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng của Đức Chúa Trời

Bản in PDF 

Kỳ trước chúng ta đã tra khảo Ma-thi-ơ 4:1 – 4, ma quỉ cám dỗ Chúa Giê-su hãy dùng quyền năng kỳ diệu của mình để trông nom cho lợi ích của bản thân mình. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục tra khảocuộc cám dỗ này về hai phương diện còn lại. 

Gieo Mình Xuống Từ Nóc Của Đền Thờ Là Trái Nghịch Với Ý Chỉ Của Chúa Trời 

Ma-thi-ơ 4:5 – 7. 5 Rồi ma quỉ đem Chúa vào thành phố thánh, và đặt Chúa trên nóc của Đền Thờ, 6 và nói rằng: “Nếu ngươi là Con của Chúa Trời, thì hãy gieo mình xuống đi; vì có lời chép rằng: ‘Chúa sẽ sai các thiên sứ gìn giữ ngươi, và các đấng ấy sẽ nâng ngươi trong tay, kẻo chân ngươi vấp phải hòn đá’”. 7 Chúa Giê-su phán rằng: “Cũng có lời chép rằng: ‘Ngươi đừng thử thách Chúa là Chúa Trời ngươi.’” 

Thành phố thánh tức là thành phố Giê-ru-sa-lem. Đền Thờ của Chúa Trời là ở trong thành phố Giê-ru-sa-lem. Ma quỉ đặt Chúa Giê-su trên nóc của Đền Thờ, rồi nó cám dỗ Chúa hãy gieo mình xuống. 

Các bạn có cảm nghĩ gì về đoạn Kinh Thánh này? Nhiều năm về trước khi tôi đọc đoạn Kinh Thánh này lần đầu tiên, tôi nghĩ rằng cuộc cám dỗ gì mà kỳ lạ và ngu dại như thế! Tại sao kỳ lạ và ngu dại? Tại vì tôi nghĩ rằng nếu ma quỉ đến cám dỗ tôi hãy nhảy xuống từ nóc nhà, thì chỉ có kẻ điên khùng ngu dại mới chịu nghe theo nó mà nhảy thử coi Chúa Trời có bảo hộ mình hay không, còn tôi là con người đầu óc sáng suốt thì không bao giờ làm chuyện điên khùng như vậy đâu! Các bạn có cảm nghĩ tương tự như vậy không? 

Tiếp tục đọc

Sông Nước Hằng Sống Chảy Ra Từ Trong Lòng

Sự Sống Đời Đời (8)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền Niagara 10

Bản in PDF   

Trong mấy kỳ vừa rồi, chúng ta đã thấy rằng: 

  • Sự sống đời đời là nhận biết Chúa Trời chân thật duy nhất cùng Chúa Giê-su Christ;
  • Sự sống đời đời là cuộc sống tự do;
  • Sự sống đời đời là cuộc sống công nghĩa;
  • Sự sống đời đời là cuộc sống bình yên.     

Hôm nay chúng ta tra khảo về một khía cạnh khác của sự sống đời đời hiện bây giờ trên thế gian này. 

Chúa Giê-su Ban Cho Ta Nước Uống 

Giăng 4:14. 14 Ai uống nước mà ta sẽ ban cho thì sẽ chẳng bao giờ khát nữa. Nước ta ban cho sẽ trở thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời. 

Chúa Giê-su sẽ ban cho ta nước uống. Ai uống nước đó thì sẽ chẳng bao giờ khát nữa, mà nước đó còn trở thành một mạch nước văng ra cho đến sự sống đời đời. 

Ý nghĩa của câu nói này của Chúa Giê-su thì rất sâu sắc uyên thâm, bây giờ để chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của câu này từng bước một. 

Tiếp tục đọc

Môn Đồ (2)

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (5)

Giăng 8:31

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền Jesus and moth 3

Bản in PDF

Kỳ trước chúng ta đã tra khảo phần thứ nhất của danh hiệu “Môn đồ”. Trong thời kỳ ban đầu của Hội Thánh, tất cả những người tin vào Chúa Giê-su đều được gọi là “môn đồ” của Chúa, mãi về sau dần dần người ta mới dùng danh hiệu “Tín Đồ Cơ Đốc”. 

Hôm nay chúng ta sẽ học tiếp phần thứ hai của danh hiệu “môn đồ.” 

Chúng Ta Phải Sẵn Sàng Trả Giá Rất Cao Để Trở Thành Môn Đồ Của Chúa Giê-su 

Khi chúng ta muốn đi theo Chúa Giê-su để trở thành môn đồ của Chúa, chúng ta phải sẵn sàng trả bằng một giá rất cao. Trả giá có nghĩa là gì? Tại sao chúng ta lại phải trả giá?           

Tiếp tục đọc

Chúa Giê-su Bị Ma Quỉ Cám Dỗ (1)

Ma-thi-ơ 4: 1 – 4

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền

Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng của Chúa Trời

Bản in PDF  

Kỳ trước chúng ta đã tra khảo về phép báp-tem của Chúa Giê-su. Hôm nay chúng ta bắt đầu tra khảo Ma-thi-ơ 4.

Ma-thi-ơ 4:1 – 4  1 Sau đó Thánh Linh hướng dẫn Chúa Giê-su đến đồng vắng (tức là vùng sa mạc) để chịu ma quỉ cám dỗ. 2 Sau khi Chúa đã kiêng ăn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm rồi, thì Chúa đói. 3 Quỉ cám dỗ đến gần Chúa và nói rằng: “Nếu ngươi là Con của Chúa Trời, thì hãy khiến những hòn đá nầy biến thành bánh đi.” 4 Chúa Giê-su đáp rằng: “Có lời chép rằng: ‘Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng của Chúa Trời.’”

Tại Sao Thánh Linh Hướng Dẫn Chúa Giê-su Đến Đồng Vắng Để Chịu Ma Quỉ Cám Dỗ?

Sau khi Chúa Giê-su chịu phép báp-tem rồi, thì Thánh Linh hướng dẫn Chúa đến đồng vắng (tức là vùng sa mạc) để chịu ma quỉ cám dỗ.

Xin các bạn để ý, đây không phải là Chúa tình cờ đi vào đồng vắng rồi bị ma quỉ cám dỗ, mà là Thánh Linh hướng dẫn Chúa đi vào đồng vắng để chịu ma quỉ cám dỗ. Vậy thì cuộc cám dỗ này là ở trong dự tính của Chúa Trời. Đây không phải là ngẫu nhiên, mà là do Chúa Trời sắp đặt trước.

Tại sao Chúa Trời lại để cho Con của Ngài chịu ma quỉ cám dỗ? Chúa Trời là toàn năng, Ngài có thể làm được bất cứ việc gì nếu Ngài muốn, vậy mà Ngài chẳng những không bảo hộ cho Chúa Giê-su khỏi bị cám dỗ, mà Thánh Linh của Ngài còn dẫn đưa Chúa đi vào đồng vắng để chịu ma-quỉ cám dỗ! Chúa Trời làm như vậy thì có mục đích gì?

Tiếp tục đọc

Sự Sống Đời Đời Là Cuộc Sống Bình Yên

Sự Sống Đời Đời (7)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền McDonald College 07

Bản in PDF   

Thế Giới Này Tràn Đầy Thù Oán, Đau Khổ, Lo Âu 

Ngày nay chiến tranh bùng nổ tại nhiều nơi trên thế giới, có khi là chiến tranh giữa hai hay vài quốc gia khác nhau, có khi là cuộc nội chiến trong một nước giữa chủng tộc này và chủng tộc kia. Những cuộc chiến tranh này thường kéo dài hàng chục năm.   

Có một nước ở Phi Châu, cuộc nội chiến trong nước đã kéo dài hơn mười năm rồi. Các bạn có biết đó là vì lý do gì không? Cuộc nội chiến đó không phải vì nguyên nhân chính trị hay chủng tộc, mà chỉ vì hột xoàn kim cương. Quân đội phản bội muốn tranh giành mãnd đất sản xuất rất nhiều kim cương, họ đã đánh trận với quân đội chính phủ trong nhiều năm qua, bao nhiêu người bị giết hại, bao nhiêu người dân bị què tay què chân. Tất cả những đau khổ tàn sát đó đều gây nên bởi lòng tham lam. 

Tiếp tục đọc

Môn Đồ (1)

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (4)

Giăng 8:31

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Jesus and moth 3

Bản in PDF  

Hôm nay chúng ta tra khảo ý nghĩa của một danh hiệu khác của Tín Đồ Cơ Đốc, ấy là “môn đồ”. 

Giăng 8:31 – 32 31 Vậy Chúa Giê-su nói cùng những người Giu-đa đã tin vào Chúa rằng: “Nếu các ngươi ở trong lời của ta, thì các ngươi thật là môn đồ ta; 32 các ngươi sẽ nhận biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.”

Sau khi chúng ta tin vào Chúa Giê-su, chúng ta phải sống trong lời của Chúa, thì chúng ta thật là môn đồ của Chúa. 

Tiếp tục đọc

Chúa Giê-su Chịu Phép Báp-tem

Ma-thi-ơ 3: 13 – 17 

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền

Đây là Con yêu dấu của ta, ta rất hài lòng về người

Bản in PDF   

Trong bài giảng trước chúng ta đã thấy rằng Giăng Báp-tít đến giảng đạo trong đồng vắng, người kêu gọi dân chúng phải ăn năn hối cải, vì vương quốc Thiên Đàng đã đến gần! Nhiều người đến cùng Giăng, họ xưng tội mình và chịu người làm phép báp-tem dưới sông Giô-đanh.

Hôm nay chúng ta sẽ tra khảo đoạn Kinh Thánh kế tiếp Ma-thi-ơ 3:13 – 17.

Ma-thi-ơ 3:13 – 17 13 Thế rồi Chúa Giê-su từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh, để chịu Giăng làm phép báp-tem. 14 Nhưng Giăng ngăn cản Chúa rằng: “Chính tôi cần phải chịu ngươi làm phép báp-tem, mà sao ngươi lại đến cùng tôi?” Chúa Giê-su đáp rằng: 15 “Bây giờ cứ làm như vậy đi, vì chúng ta làm trọn vẹn mọi sự công nghĩa như thế là hợp lễ.”  Giăng bèn vâng lời người. 16 Vừa khi chịu phép báp-tem xong, Chúa Giê-su liền ra khỏi nước. Kìa, bầu trời mở ra, Chúa thấy Thánh Linh của Chúa Trời giáng xuống như chim bồ câu và đậu trên Chúa. 17 Kìa, có tiếng nói từ trên trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của ta, ta rất hài lòng về người.”

Chúa Giê-su Chẳng Nhận Biết Tội Lỗi

Tại sao Chúa Giê-su phải chịu phép báp-tem? Loài người chúng ta cần phải ăn năn hối cải rồi chịu phép báp-tem, tại vì chúng ta đều đã phạm tội. Nhưng Chúa Giê-su chưa hề phạm một tội lỗi nào cả, Chúa là hoàn toàn trọn vẹn. Nếu Chúa có phạm bất cứ một tội lỗi nào, cho dù là một tội rất nhẹ, thì Chúa không thể cứu chuộc chúng ta được.

Tiếp tục đọc

Sự Sống Đời Đời Là Cuộc Sống Công Nghĩa

Sự Sống Đời Đời (6)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnMcDonald College 04

Bản in PDF  

Trong hai bài giảng trước chúng ta đã tra khảo về hai khía cạnh của sự sống đời đời hiện bây giờ trên thế gian này: Sự sống đời đời là nhận biết Chúa Trời chân thật duy nhất cùng Chúa Giê-su Christ, và sự sống đời đời là cuộc sống tự do.

Hôm nay chúng ta sẽ tra khảo một khía cạnh khác của sự sống đời đời.

Sự Sống Đời Đời Là Cuộc Sống Công Nghĩa 

1 Phi-e-rơ 2:24 24 Chính Chúa gánh vác tội lỗi của chúng ta trong thân thể Chúa trên cây gỗ, hầu cho chúng ta chết về tội lỗi và sống cho sự công nghĩa; bởi những vết thương của Chúa mà anh em được lành.

Chúa Giê-su gánh vác hết thảy tội lỗi của chúng ta trong thân thể mà chịu chết trên cây thập tự hầu cho chúng ta chết về tội lỗi và sống cho sự công nghĩa.

Hôm nay chúng ta chỉ tập trung về phần “sống cho sự công nghĩa”, còn về phần “chết về tội lỗi” tôi sẽ giải thích trong một bài giảng khác.

Tiếp tục đọc

Sự Sáng Của Thế Gian

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (3)

Ma-thi-ơ 5:14-16

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền

Miscellaneous 06

Bản in PDF

Chúng Ta Là Sự Sáng Của Thế Gian 

Ma-thi-ơ 5:14-16 14 Các ngươi là sự sáng của thế gian. Một cái thành trên núi thì không thể bị che khuất được; 15 cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, nhưng người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. 16 Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, để họ thấy những việc lành của các ngươi, và tôn vinh Cha các ngươi ở trên trời.

Cái danh hiệu mà chúng ta sẽ tra khảo hôm nay là “sự sáng của thế gian.”

Tiếp tục đọc

Giăng Báp-tít Dọn Đường Của Chúa Giê-su

Ma-thi-ơ 3:1 – 12

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền

Peggy's Cove 02

Bản in PDF   

Hôm nay chúng ta bắt đầu tra khảo Ma-thi-ơ chương 3. Đến chương này thì Chúa Giê-su đã trưởng thành rồi.

Ma-thi-ơ 3:1 – 12 1 Lúc ấy, Giăng Báp-tít đến giảng đạo trong đồng vắng (tức là vùng sa-mạc) của  xứ Giu-đê, 2 nói rằng: “Các ngươi phải ăn năn, vì vương quốc Thiên Đàng đã đến gần!” 3 Ấy chính là đấng  mà tiên tri Ê-sai đã báo trước rằng: “Có tiếng kêu trong đồng vắng: ‘Hãy dọn đường của Chúa, san bằng các nẻo của Chúa.’” 4 Giăng mặc áo bằng lông lạc đà, buộc dây lưng bằng da; ăn, thì ăn những châu chấu và mật ong rừng. 5 Bấy giờ, dân chúng của thành Giê-ru-sa-lem và cả xứ Giu-đê, cả miền xung quanh sông Giô-đanh đều đến cùng người. 6 Khi họ xưng tội mình rồi, thì chịu người làm phép báp-tem dưới sông Giô-đanh. 7 Nhưng khi Giăng thấy nhiều người thuộc nhóm Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến chịu phép báp-tem, thì người bảo họ rằng: “Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn thạnh nộ sắp đến? 8 Vậy, các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn, 9 và đừng tự khoe rằng: ‘Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta;’ Ta nói cho các ngươi rằng Chúa Trời có thể khiến những hòn đá nầy sinh ra con cái cho Áp-ra-ham được. 10 Bây giờ cái búa đã để kề gốc cây; vậy hễ cây nào không sinh trái tốt thì sẽ bị đốn đi và quăng vào lửa. 11 Về phần ta, ta lấy nước mà làm phép báp-tem cho các ngươi về ăn năn; nhưng đấng đến sau ta có quyền năng hơn ta, ta không xứng đáng xách dép cho người. Ấy là đấng sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Thánh Linh và bằng lửa. 12 Tay người cầm cái sàng mà dê sạch sân lúa của mình và người sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt.”

đọc tiếp

Sự Sống Đời Đời Là Cuộc Sống Tự Do

Sự Sống Đời Đời (5)

Bài giảng của Bà Mục Sự Châu Huệ HiềnMcDonald College 03

Bản in PDF   

Chúa Giê-su Cho Ta Được Tự Do

Kỳ trước chúng ta đã thấy rằng sự sống đời đời hiện bây giờ trên thế gian này là nhận biết Chúa Trời Đức Gia-vê chân thật duy nhất cùng Chúa Giê-su Christ. Hôm nay chúng ta sẽ tra khảo một khía cạnh khác của sự sống đời đời. 

Giăng 8:36 36 Vậy nếu Đức Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật sự được tự do.

“Đức Con” là con của loài người, chính là Chúa Giê-su. Chúa thường tự xưng mình là con của loài người. Căn cứ theo câu Kinh Thánh này thì người đời không có tự do, chỉ khi Chúa Giê-su buông tha chúng ta, chúng ta mới thật sự được tự do.

Nhiều người tưởng rằng nếu họ trở thành Tín Đồ Cơ Đốc thì họ sẽ mất đi tự do, thí dụ như họ không được đánh bạc, không được chơi bời, không được nói dối, không được giận hờn người khác, không được làm cái này cái kia v.v.

Nhưng lời dạy của Kinh Thánh là hoàn toàn trái ngược với ý tưởng của người đời.

Tiếp tục đọc

Muối Của Đất

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (2)

Ma-thi-ơ 5:13

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Soccer player

Bản in PDF   

Tín Đồ Cơ Đốc Là Muối Của Đất 

Kỳ trước chúng ta đã tra khảo danh hiệu “Tay đánh lưới người”, hôm nay chúng ta sẽ tra khảo một danh hiệu khác của Tín Đồ Cơ Đốc. 

Ma-thi-ơ 5:13 13 Các ngươi là muối của đất; nhưng nếu muối mất mặn đi, thì lấy gì mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ có bị quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân.” 

Vậy Tín Đồ Cơ Đốc là muối của đất. Muối của đất có nghĩa là gì? 

Tiếp tục đọc

Tay Đánh Lưới Người

Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc (1)

Ma-thi-ơ 4:19

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Lamma Island 03

Bản in PDF   

Tại Sao Chúng Ta Phải Tra Khảo Về Các Danh Hiệu Của Tín Đồ Cơ Đốc? 

Hôm nay chúng ta bắt đầu tra khảo về các danh hiệu của Tín Đồ Cơ Đốc trong Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh, Tín Đồ Cơ Đốc được gọi bằng nhiều danh hiệu khác nhau, mỗi một danh hiệu đều mang một ý nghĩa riêng biệt. Khi ta hiểu rõ ý nghĩa của những danh hiệu này, thì ta mới biết ta nên làm cái gì và ta nên sống một cuộc đời như thế nào trên thế gian này. Khi ta thật sự sống một cuộc sống phù hợp với lời dạy trong Kinh Thánh, thì người đời sẽ khen ngợi Chúa Trời Gia-vê, Danh của Đức Cha được vinh hiển, ý của Ngài được thành tựu trong cuộc đời của ta. 

Danh hiệu đầu tiên mà chúng ta sẽ tra khảo là : “Tay đánh lưới người”. 

Tiếp tục đọc

Sự Sống Đời Đời Là Nhận Biết Chúa Trời Chân Thật Duy Nhất Cùng Chúa Giê-su Christ

Sự Sống Đời Đời (4)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnMcDonald College 05

Bản in PDF

Trong mấy kỳ vừa rồi, chúng ta đã thấy rằng sự sống đời đời gồm có 2 phần: sự sống đời đời hiện bây giờ trên thế gian này và sự sống đời đời trong tương lai ở nước Thiên Đàng. Sự sống đời đời hiện bây giờ là một cuộc sống mới tràn đầy công nghĩa, vui vẻ, bình yên sống cùng với Chúa Trời Đức Gia-vê chân thật duy nhất và Chúa Giê-su Christ. Chỉ có những người Tín Đồ chân chính của Chúa Giê-su mới được ban cho một cuộc sống mới như vậy. Trong tương lai vào ngày sau cùng, khi Chúa Giê-su trở về thế gian này thì Chúa sẽ cho những Tín Đồ chân chính được sống lại, ấy chính là sự sống đời đời ở nước Thiên Đàng.

Sự sống đời đời hiện bây giờ là bằng chứng của sự sống đời đời trong tương lai ở nước Thiên Đàng. Nếu bây giờ chúng ta đã được một cuộc sống mới tràn đầy công nghĩa, vui vẻ, bình yên sống cùng với Chúa Trời và Chúa Giê-su, thì ta biết chắc rằng trong tương lai ta hẳn được sự sống đời đời ở nước Thiên Đàng; ngược lại nếu bây giờ chúng ta không có một cuộc sống mới công nghĩa, bình yên, vui vẻ, thì trong tương lai ta cũng không được sự sống đời đời ở nước Thiên Đàng.

Tại vì cuộc sống mới này là quan trọng như thế, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về sự sống đời đời hiện bây giờ của người Tín Đồ Cơ Đốc.

Tiếp tục đọc

Các Thầy Chiêm Tinh Đến Từ Đông Phương Và Cuộc Chạy Trốn Qua Ê-díp-tô

Ma-thi-ơ 2:1 – 23

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Cuộc chạy trốn qua Ê-díp-tô

Cuộc chạy trốn qua Ê-díp-tô

 Bản in PDF

Các Thầy Chiêm Tinh Đến Từ Đông Phương Để Thờ Lạy Vua Mới Sinh Của Giu-đa 

Ma-thi-ơ 2:1 – 12  1 Sau khi Chúa Giê-su đã sinh tại thành Bết-lê-hem của xứ Giu-đê dưới đời vua Hê-rốt, có mấy thầy chiêm tinh ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, 2 và hỏi rằng: “Vị vua mới sinh của dân Giu-đa ở đâu? Vì chúng tôi ở đông phương đã thấy ngôi sao của vua, nên đến đây để thờ lạy vua.” 3 Khi vua Hê-rốt nghe tin ấy, thì vua cùng cả thành Giê-ru-sa-lem đều bối rối. 4 Vua bèn nhóm họp các thầy tế lễ cả và các thầy dạy Luật trong dân chúng mà tra hỏi rằng: “Đấng Christ phải sinh tại đâu?” 5 Họ tâu rằng: “Tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đê; tại vì có lời của đấng tiên tri chép như vầy: 6 ‘Hỡi Bết-lê-hem, đất Giu-đa! Thật ra ngươi chẳng có thua kém các người lãnh đạo của xứ Giu-đa đâu, vì từ ngươi sẽ ra một lãnh tụ, là đấng sẽ chăn giữ dân ta Y-sơ-ra-ên.’” 7 Vua Hê-rốt bèn mời một cách kín đáo mấy thầy chiêm tinh đến mà hỏi kỹ càng về ngôi sao đó đã hiện ra khi nào. 8 Rồi vua sai mấy thầy đó đến thành Bết-lê-hem, và dặn rằng: “Các ngươi hãy đi tìm kiếm con trẻ đó; khi tìm được rồi, hãy cho ta biết, hầu cho ta cũng đến mà thờ lạy người.” 9 Mấy thầy nghe vua nói xong, liền đi. Kìa, ngôi sao mà họ đã thấy ở bên đông phương đi trước mặt họ cho đến ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại. 10 Khi mấy thầy thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 11 Khi vào trong nhà, họ thấy con trẻ cùng với mẹ người là Ma-ri, họ quỳ xuống thờ lạy người. Rồi họ bày của quý ra và dâng cho người các lễ vật: vàng, nhũ hương, và một dược. 12 Và trong giấc chiêm bao mấy thầy đã được Chúa Trời cảnh cáo rằng không nên trở lại với vua Hê-rốt; nên họ đi đường khác về xứ mình. 

Đoạn Kinh Thánh này nói đến các thầy chiêm tinh từ đông phương đến tìm kiếm vị vua mới sinh của dân Giu-đa. Trong Kinh Thánh Việt Ngữ thì dịch là “mấy thầy bác sĩ đến từ đông phương”. Thật ra mấy thầy này không phải là bác sĩ. Ý nghĩa của chữ này trong nguyên văn Hy-lạp là “kẻ thông minh, có học vấn đặc biệt về môn chiêm tinh học”. Chiêm tinh học là ngành học vấn nghiên cứu về sự chuyển động của các ngôi sao trên trời, rồi từ đó mà dự đoán những việc sẽ xảy ra trong tương lai. 

Sau khi Chúa Giê-su đã sinh tại thành Bết-lê-hem của xứ Giu-đê,  các thầy chiêm tinh này ở bên đông phương quan sát được một ngôi sao đặc biệt xuất hiện, họ nhận ra rằng ngôi sao này chỉ về vị vua mới sinh của dân Giu-đa, cho nên họ đến Giê-ru-sa-lem là thủ đô của xứ Giu-đê để thờ lạy vị vua này. 

Tiếp tục đọc

Liên Hệ Giữa Sự Sống Đời Đời Hiện Bây Giờ Và Sự Sống Đời Đời Trong Tương Lai

Sự Sống Đời Đời (3)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnMcDonald College 02

Bản in PDF   

Kỳ trước chúng ta đã thấy rằng Tín Đồ Cơ Đốc được ban cho sự sống đời đời ngay bây giờ trên thế gian này. Sự sống đời đời trên thế gian này là một cuộc sống vui vẻ, bình yên, công nghĩa, không bị tội lỗi ràng buộc và chúng ta có một quan hệ rất thân mật cùng với Chúa Trời, Thánh Linh của Ngài ngự trong lòng ta, Chúa Trời là Cha của ta và ta là con cái của Ngài.

Hôm nay chúng ta tiếp tục tra khảo về mối liên hệ giữa sự sống đời đời hiện bây giờ và sự sống đời đời trong tương lai ở nước Thiên Đàng.

Tiếp tục đọc

Gia Phổ Và Sự Giáng Sinh Của Chúa Giê-su Christ

Ma-thi-ơ 1:1-25

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền 

Một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sinh một con trai, rồi người ta đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên

Một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sinh một con trai, rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên

Bản in PDF   

Giới Thiệu Quyển Sách “Tin Lành Theo Ma-thi-ơ” 

Hôm nay chúng ta bắt đầu tra khảo quyển sách “Tin Lành Theo Ma-thi-ơ”. Bộ Tân Ước của Kinh Thánh gồm có 27 quyển sách, “Tin Lành Theo Ma-thi-ơ” là quyển sách đầu tiên của Tân Ước. 

Ma-thi-ơ là một trong những môn đồ đầu tiên của Chúa Giê-su, và người được Chúa chọn làm một trong 12 sứ đồ. Người vốn là một người thâu thuế. Hồi đó ở nước Y-sơ-ra-ên người thâu thuế bị người ta khinh thường lắm, người ta coi họ là những kẻ thấp hèn, phạm tội trầm trọng. Tại vì phần đông những người thâu thuế thường hay đòi người dân phải nộp số tiền nhiều hơn đã quy định, cho nên người ta khinh thường thù oán họ. Khi Chúa Giê-su thấy Ma-thi-ơ, Chúa kêu gọi người, và người vui lòng từ bỏ tất cả để đi theo Chúa. Về sau Chúa biến đổi Ma-thi-ơ thành ra một người sứ đố trung tín đắc lực. Trong quyển sách “Tin Lành Theo Ma-thi-ơ”, Ma-thi-ơ ghi lại lời dạy của Chúa cùng những việc Chúa đã làm khi Chúa ở thế gian này. 

Tiếp tục đọc

Sự Sống Đời Đời Hiện Bây Giờ Trên Thế Gian Này

Sự Sống Đời Đời (2)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnMcDonald College 01

Bản in PDF

Các Bạn Có Muốn Hưởng Một Cuộc Sống Thật Sự Vui Vẻ Bình Yên Không?

Khi một nơi nào đó có phong cảnh thật đẹp, khí hậu rất tốt, cuộc sống rất thoải mái, thì người ta hay gọi chỗ đó là “Thiên Đàng trên trần gian.”

Khi một đôi vợ chồng vừa mới cưới nhau, tình thương giữa hai người thật sâu đậm, cuộc sống tràn đầy hạnh phúc thương yêu, thì người ta cũng hay nói rằng đôi vợ chồng này hình như đang sống ở Thiên Đàng vậy.

bấm vào đây để đọc tiếp

Sự Sống Đời Đời Là Gì?

Sự Sống Đời Đời (1)

Bài giảng của Bà Mục Sư Châu Huệ HiềnJean Drapeau 06

Bản in PDF   

Các Bạn Có Muốn Sự Sống Đời Đời Không?

Trên thế giới này, hầu như người nào cũng muốn sống lâu. Người giàu có thì tìm thuốc này thuốc nọ mà ăn hầu cho được sống lâu hơn. Ở nước Mỹ, có một ca sĩ rất nổi tiếng, ông này rất giàu có. Ông có thể dùng tiền bạc để mua hầu hết tất cả mọi điều ông thích, nhưng điều mà ông ham muốn nhất là trường thọ, ông chỉ mong được sống càng lâu thì càng tốt.

Ông biết rằng cho dù ngày nay khoa học rất tân tiến, nhưng vẫn có nhiều chứng bịnh chữa không được. Ông sợ rằng một hôm nếu ông mắc phải chứng bịnh gì chữa không được thì ông sẽ chết đi, mà không chừng mười hay hai mươi năm sau, nhà khoa học mới tìm ra phương pháp để chữa trị bịnh đó, nhưng lúc đó ông đã chết từ lâu rồi, vậy thì trễ quá rồi!

Ông nghe nói rằng nếu ướp lạnh cái thân thể của con người, thì tất cả các bộ phận của thân thể sẽ được giữ lại hoàn hảo, không bị phân hủy; nếu sau này đem cái thân thể ướp lạnh này đi giải băng, thì bắp thịt sẽ mềm lại, và các cơ quan của thân thể vẫn còn trọn vẹn, rồi cả thân thể sẽ hoạt động lại, và con người sẽ được sống lại.

Tiếp tục đọc

Bài Làm Chứng Của Chị Mỹ

 Lời Tạ Ơn 

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Đầu Tôi Bị Đụng Vào Một Cột Sắt Trên Xe Buýt

Một buổi chiều tôi đang đi xe buýt về nhà, khi xe buýt đến trạm thì tôi đứng dậy để xuống xe. Nhưng bất thình lình chiếc xe xóc lên, tôi bị đẩy ra phía trước. Tuy rằng tôi không có té xuống, nhưng đầu tôi đụng vào một cột sắt trên xe. Sau cùng khi tôi bám chặt vào một cái cột để đứng vững lại, thì tôi thấy đầu bị đau nhức quá. Tôi nghĩ rằng, “Chuyến đi này lại gây cho tôi bị choáng não!” Tôi sợ rằng tôi bị chấn động não và không chừng đầu tôi còn bị thương ở chỗ nào đó nữa. Nhà tôi còn xa lắm, cho dù tôi thấy nhức đầu ghê, nhưng tôi cứ tiếp tục cuộc hành trình về nhà.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Bác Gái Đinh

 Sự Đổi Mới Trong Tâm Hồn Và Kinh Lịch Kỳ Diệu

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Hôm nay tôi muốn cảm tạ Đức Chúa Trời và Hội Thánh vì đã cho tôi cái dịp này để chia sẻ cùng các anh chị em những bài học quí giả mà Ngài đã dạy bảo tôi. Tôi bắt đầu tiếp xúc với Hội Thánh vào năm 1996, cách đây đã gần 10 năm trời. Lúc tôi mới bắt đầu đi dự lễ ở nhà thờ, tôi không hiểu biết gì cả về dạy dỗ trong Kinh Thánh, và tôi cũng không nhận biết Chúa Trời và Chúa Giê-su.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Trần Tuấn Minh

Một Câu Chuyện Kỳ Diệu

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Cái Máy Tính Điện Tử Mới Bị Mất

Tôi và vợ tôi vừa dời vào chỗ mới được hai tuần lễ. Tại vì ông chủ nhà nói rằng ông đã thay cái khóa của cổng lớn rồi, cho nên tôi không có tự mình đi thay cái khóa cổng nhà. Một buổi tối chúng tôi trở về nhà sau một buổi họp. Cổng lớn và các cửa sổ đều khóa chặt hết rất là an toàn. Tôi đi vào phòng gọi điện thoại cho một người bạn. Khi tôi và bạn tôi đang nói chuyện qua điện thoại, tôi đặt tay trên bàn viết tại chỗ mà tôi thường để cái máy tính điện tử. Tôi sực thấy rằng cái máy tính điện tử không có ở đó. Sau khi điện thoại xong, tôi hỏi vợ tôi có đem cái máy tính điện tử đi chỗ khác không, nhưng vợ tôi chẳng hay biết gì cả. Chúng tôi vội vàng xem xét cả nhà, thì tôi thấy cái máy tính điện tử cùng cái dây điện và một vài đồ phụ tùng đều mất hết. Tôi biết rằng bị kẻ ăn trộm vào nhà lấy mất cái máy rồi, nhưng cái cổng lớn và các cửa sổ đều khóa chặt lại. Hơn nữa hết thảy đồ đạc trong nhà vẫn nguyên vẹn không có bị mất một món nào cả, ngoại trừ cái máy tính điện tử thôi. Tôi xét cái ngăn kéo của bàn viết, thì thấy ví tiền của tôi và cả số tiền vẫn ở trong đó không bị mất một đồng nào cả. Cả nhà không có đánh mất một món nào khác, chỉ mất cái máy tính điện tử.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Tạ Trần Tú

Đừng Đánh Mất Niềm Tin

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Niềm Tin Và Tình Yêu Đối Với Chúa Trời Khiến Tôi Đứng Vững

Nếu bạn ở trong hoàn cảnh không gia đình, không việc làm, lại phải ở một nơi xa lạ, bạn sẽ suy nghĩ như thế nào? Thật khó suy nghĩ phải không? Tôi rời Québec để đến Montréal trong hoàn cảnh như thế đấy các bạn, điều gì đã giúp tôi đứng vững được? Điều gì đã khiến tôi không cảm thấy buồn khổ, cô đơn, thậm chí còn yêu đời nữa!

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Đinh Công Thảo

Tin Cậy Và Vâng Lời 

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

 Bản in PDF

Trước Kia Nhiều Khi Tôi Làm Việc Theo Ý Riêng Và Sức Riêng Của Mình

Các bạn mến, đối với những người Tín Đồ chúng ta thì bài thánh ca “Tin cậy vâng lời” rất là quen thuộc phải không các bạn? Nhưng trên thực tế chúng ta có tin cậy và vâng lời Chúa Trời trong mọi sự như ý nghĩa của bài thánh ca đó hay không, nhất là khi ý của Chúa Trời đi ngược lại với những gì chúng ta muốn làm? Điều này thường xảy ra trong cuộc sống của những người Tín Đồ. Đó cũng là câu hỏi mà Chúa Trời đã đặt trong lòng tôi suốt những ngày tháng vừa qua.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Trương Thị Mỹ

Không Nóng Giận Và Không Nhớ Tội Người

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Trước hết tôi muốn chia sẻ một ít về bối cảnh đời tôi để cho quí vị hiểu qua tôi. Năm nay tôi đã trên 60 tuổi rồi mới biết đến Chúa Trời! Các bạn có biết không, hôm tôi làm lễ báp-tem, cháu ngoại tôi mới hỏi mẹ nó: “Tại sao cho đến giờ này, bà ngoại mới làm lễ báp-tem vậy, mẹ?” Các bạn có thấy không? Con nít mà còn biết nhận xét như vậy!

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Thanh Sơn

Thành Tín Của Chúa Thật Lớn Thay!

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Quyết Định Dọn Đi Tầng Trên Căn Nhà Của Ông Bà Mục Sư

Ở Canada, người ta hay dọn nhà vào những tháng hè, nhất là tháng 7. Vào những ngày ấy, chúng ta hay có dịp giúp đỡ những người thân thuộc dọn nhà hay chính chúng ta phải dọn nhà. Năm nay, vợ chồng chúng tôi có một kinh nghiệm dọn nhà vô cùng đặc biệt.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Trúc Tâm

Niềm Tin Trong Chúa Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Trong cuộc đời theo Chúa Trời, người Tín Đồ nào cũng kinh lịch được quyền năng và sự mầu nhiệm của Ngài. Tình yêu thương của Chúa Trời được bày tỏ qua những ơn phước Ngài ban cho trong cuộc sống. Hôm nay tôi muốn chia sẻ cùng các bạn sự nhận biết về Chúa Trời, cũng như tình yêu thương của Ngài đã ban cho tôi trong thời gian qua.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Đỗ Thị Kim Thạch

Quyền Năng Và Ân Điển 

Bài Làm Chứng Của Các Tín Đồ Cơ Đốc

Bản in PDF

Mỗi người chúng ta đến với Chúa Trời trong những hoàn cảnh khác nhau, vì mỗi người đều bắt đầu ở những khởi điểm khác nhau. Có người đến với Chúa Trời qua sự khâm phục công trình sáng thế tuyệt vời của Ngài. Có người đến với Chúa Trời qua sự nhận biết tình thương vô biên, cao quý và mầu nhiệm của Ngài. Có người đến với Chúa Trời qua sự vấp ngã trên đường đời, thất bại về công danh sự nghiệp, về tình duyên éo le trắc trở, cần có Đấng an ủi và dìu dắt trong những ngày còn lại trên đất này v.v. Còn tôi, tôi đã đến với Chúa Trời trong trường hợp nào? Quyền năng của Chúa Trời thể hiện như thế nào trong cuộc sống của tôi? Ân điển của Chúa Trời đã ban phát cho tôi đến mực độ nào? Mời các bạn cùng theo dõi qua những lời chia sẻ sau đây.

bấm vào đây để đọc tiếp

Qua Ngưỡng Cửa Vinh Hiển

Tiểu Sử Của Năm Vị Giáo Sĩ Trẻ Tuổi

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Đây là câu chuyện về năm vị giáo sĩ trẻ tuổi đã làm chấn động dư luận cả thế giới vào năm 1956. Năm vị giáo sĩ này là người Mỹ, tên của họ là Jim Elliot, Pete Fleming, Ed McCully, Roger Younderian và Nate Saint. Họ đã dấn thân vào tận rừng già Nam Mỹ để tiếp xúc và chia sẻ tình yêu của Chúa Trời cho các sắc dân thiểu số. Những động lực gì đã thôi thúc họ để lại sau lưng một tương lai rực rỡ, đầy hứa hẹn mà đi rao truyền Tin Lành ở một xứ lạc hậu, nghèo nàn như nước Ecuador. Chúa Trời đã làm việc trong cuộc đời của họ như thế nào?

Đầu tiên tôi xin trình bày sơ lược tiểu sử của năm vị giáo sĩ đáng kính này.

Tiểu Sử Của Jim Eliot

Nhờ sự hướng dẫn tốt lành của gia đình, Jim lớn lên trong đường lối của Chúa Trời. Từ khi còn bé, cứ sau mỗi buổi ăn sáng thì cha của Jim thường đọc Kinh Thánh cho bốn người con thân yêu của mình. Ông cố gắng dạy các con mình phải luôn sống theo lời của Chúa Trời. Ông thường mô tả cho các con rằng sự vui mừng là phần thưởng lớn trong cuộc sống của Tín Đồ Cơ Đốc. Những dạy dỗ tốt lành đó đã thấm nhuần và in sâu vào tấm lòng của các con của ông. Jim là người con trai thứ ba trong gia đình, người đã tin vào Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của đời mình ngay khi còn rất trẻ.

Khi lên trung học, Jim muốn noi gương của sứ đồ Phao-lô, quyết tâm “không hổ thẹn vì Tin Lành của Đấng Christ”. Mỗi lần vào lớp học thì người luôn đặt quyển Kinh Thánh ở trên chồng sách của mình. Jim là con người có nghị lực, rất sốt sắng trong công việc của Chúa Trời. Mỗi lần khi người biết rõ ý của Chúa Trời, Jim luôn hết lòng hết sức vâng phục Ngài.

Khi bước vào năm thứ nhất đại học, Jim cố giới hạn những hoạt động ngoài chương trình học vấn, vì người không muốn vướng bận với những việc ít quan trọng mà lỡ đi những việc tối quan trọng. Lên năm thứ hai, sau khi nhận biết rằng Chúa Trời sẽ hướng dẫn mình đem Tin Lành đến các xứ Nam Mỹ, thì ngay lập tức Jim đi học tiếng Tây-ban-nha, là thứ ngôn ngữ chính của vùng Nam Mỹ. Cùng một lúc, Jim cũng học tiếng Hy Lạp để giúp cho việc phiên dịch Kinh Thánh trong tương lai.

Sắp lên năm cuối của đại học, Jim ghi lại trong quyển nhật ký của mình rằng: “Xin Chúa hãy khiến con trở thành nhiên liệu của Ngài, ngọn lửa của Chúa Trời.” Trong cuối năm chót, Jim tham dự một kỳ đại hội truyền giảng tổ chức tại trường đại học Illinois, đó là dành cho các sinh viên có ý định dấn thân vào công việc truyền giảng Tin Lành ở nước ngoài. Trong thời gian đó, Jim cầu nguyện xin Chúa Trời cho biết ý muốn của Ngài trong đời của mình. Vào cuối mùa hè 1950, cũng là vào lúc cao điểm của sự cầu nguyện và tìm cầu ý của Chúa Trời, Jim gặp một vị giáo sĩ đến từ xứ Ecuador. Sau đó, Jim dành trọn 10 ngày chăm chú vào việc cầu nguyện để khẳng định rõ ràng về ý muốn và sự hướng dẫn của Chúa Trời trong việc đi truyền giảng Tin Lành ở Ecuador.

Tiểu Sử Của Pete Fleming

Pete sanh trưởng ở Seatle, thuộc tiểu bang Washington. Vào năm 13 tuổi, người tin vào Chúa Giê-su sau khi nghe lời làm chứng của một vị giáo sĩ mù. Khi Pete lên trung học, người muốn bắt chước Hê-nóc “đi cùng với Đức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 5:22, 24). Khi vào đại học Washington, Pete chọn triết học làm môn học chính. Bởi thế, có một lúc Pete phân vân và lẫn lộn trước vô số lý thuyết triết học và tư tưởng xung đột lẫn nhau. Nhưng cuối cùng Chúa Trời là Đấng chăn giữ linh hồn, Ngài đã đưa Pete trở về với lời hằng sống. Pete rất siêng năng và chăm học, cho dù phải vừa đi làm vừa học và có bận làm sao đi nữa người vẫn ráng tranh thủ thời giờ để cầu nguyện và học tập lời của Chúa. Ngay sau khi đậu bằng cao học văn chương, Pete cố gắng tìm cầu sự hướng dẫn của Chúa Trời, thì người gặp lại người bạn xưa là Jim Elliot. Hai người giữ liên lạc với nhau và sau cùng Pete quyết định sẽ phụng sự Chúa Trời ở Ecuador. Điều này đã làm cho các bạn cùng khóa vô cùng kinh ngạc. Vào tháng 2 năm 1952, Jim và Pete đi bằng đường biển đến Guayaquil là thành phố lớn và tân tiến nhất của Ecuador. Họ ở tạm chỗ đó một đêm, hôm sau hai người lấy máy bay đi đến Quito, thủ đô của xứ Ecuador.

Tiểu Sử Của Ed McCully

Ed là con trai lớn trong gia đình, cha của Ed là người quản trị của một hãng bánh ở tiểu bang Milwaukee của nước Mỹ. Cha của Ed rất sốt sắng tham dự vào công việc truyền giảng Tin Lành. Cha của Ed đã có dịp đi khắp cả nước Mỹ và nắm lấy mỗi một cơ hội để làm chứng về Chúa Trời cho những hiệp hội thương mại và các nhóm Tin Lành ở khắp nơi. Khi Ed vào trường đại học Wheaton, người chọn học ngành kinh tế và doanh thương. Lúc ấy người chưa có ý định dự vào công việc truyền giảng Tin Lành ở nước ngoài. Con người Ed to lớn, lực lượng, cao khoảng 1.87m, nặng hơn 87 kí-lô, là một cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất của đội bóng đá trường đại học Wheaton. Nhưng Ed nổi bật nhất là môn thuyết trình, cho dù người chưa được huấn luyện chính thức về môn này, người đoạt giải nhất trong một cuộc tranh tài hùng biện toàn quốc ở San Francisco. Cuộc tranh tài hùng biện này có hơn 10,000 sinh viên tham dự. Năm sau Ed ghi tên vào học trường luật ở đại học Marquette. Ở Bắc Mỹ, môn luật là ngành học rất tuyển chọn và rất ít người được nhận, có khi còn khó vô hơn ngành y khoa nữa. Vào đầu năm thứ hai, Ed xin làm việc ban đêm ở một khách sạn. Tại vì buổi tối thường ít việc, Ed có thể dùng khoảng thời gian đó để ôn bài. Nhưng Chúa Trời đã sắp đặt sẵn một chương trình kỳ diệu cho cuộc đời của Ed. Từ khi bắt đầu làm việc, thay vì ôn bài thì Ed lại dùng thời gian đó học tập lời của Chúa. Điều này hẳn đã ảnh hưởng cuộc đời của Ed rất lớn. Đúng một ngày trước thời hạn ghi tên cho khóa mới, Chúa Trời đã làm một việc kỳ diệu trong lòng của Ed. Thay vì ghi tên đóng học phí với số tiền mình có, thì lòng của Ed được Chúa Trời cảm động, người quyết định không ghi danh học tiếp ngành luật nữa. Trong lá thư gởi cho Jim Elliot, Ed viết rằng: “Cách đây hai hôm, mình còn là sinh viên trường luật được mọi người nể trọng, nhưng giờ đây mình trở nên một người tầm thường không có gì cả. Cảm ơn bạn đã cầu thay cho tôi. Tôi cũng sẽ ghi nhớ cầu nguyện về chuyến đi Ecuador của bạn. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho nhau vì tôi cũng rất ao ước có thể đi Ecuador như bạn vậy.”

Để trang bị cho chuyến đi, vào năm 1951, Ed xin vào trường y tế truyền giáo ở Los Angeles. Người hết lòng học tập những môn bịnh nhiệt đới, cách chữa trị, về nha khoa và sản khoa. Ed được huấn luyện về những nguyên tắc y khoa căn bản và cần thiết để giúp những người dân bản xứ và cho chính gia đình của mình. Sau đó, vào tháng 12 năm 1952, Ed cùng với bà vợ là cô Marilou và Steve là đứa con được tám tháng, cùng đón tàu đi xứ Ecuador, là nơi mà Chúa Trời đã hướng dẫn người và gia đình đi rao truyền Tin Lành.

Tiểu Sử Của Nate Saint

Nate sinh trưởng trong một gia đình sống theo những nguyên tắc trong Kinh Thánh. Cha mẹ Nate dạy dỗ các con có kỷ luật lắm, nhưng không khí trong gia đình lại rất vui sướng. Rachel, chị của Nate tựa như người mẹ tí hon, thường đọc cho em nghe những sách nói về công việc truyền giáo ở các nước Phi Châu, Nhật Bổn, Ấn Độ và Nam Mỹ. Điều này đã in sâu trong tâm trí thơ ấu của Nate. Tuy không hề nghĩ rằng mình sẽ trở thành một người truyền giáo, nhưng Nate ước ao một ngày nào đó, mình có thể làm chứng về Chúa Trời cho những ai chưa hề được nghe về Tin Lành.

Vào năm 7 tuổi, Nate được Sam, người anh cả cho đi lên phi cơ. Được bay lượn trên không trung, bắt đầu từ đó những cánh phi cơ và khung trời mênh mông đã thu hút tâm hồn của cậu bé. Vào năm 10 tuổi, Nate mắc phải một chứng bịnh ngặt nghèo ở chân và bị bắt buộc phải ngưng tất cả những hoạt động, vì vậy mà Nate có nhiều thì giờ suy nghĩ và tự hỏi có phải Chúa Trời muốn mình trở nên một nhà truyền giáo chăng. Trong những năm trung học, Nate thường mơ tưởng về phi cơ và khung trời bao la bát ngát. Xong trung học, Nate xin vào làm việc tại một phi trường nhỏ và cùng lúc đó người học lái phi cơ hạng nhẹ. Sau một khoảng thời gian, Nate xin ghi danh vào trường sĩ quan không quân. Đây là cơ hội bằng vàng cho người, vì bấy lâu nay, Nate hằng mơ ước được lái những chiếc phi cơ quân sự to lớn và đầy năng lực. Nhưng giấc mơ của Nate chóng tiêu tan khi bịnh của người tái phát. Sự kiện xảy ra quá bất ngờ làm cho lòng của người tan nát vì không còn cơ hội học lái phi cơ cỡ lớn. Người trở nên chán nản vô cùng. Sau khi rời khỏi bịnh viện, Nate được giao cho chức vụ trưởng nhân viên bảo trì trong không quân. Trong công việc này, người có thời giờ để xem lại quyển Kinh Thánh mà người đã bỏ quên từ lâu.

Một năm sau, trong một buổi lễ thờ phượng vào đêm giao thừa, Chúa Trời làm việc thật mãnh liệt trong lòng của người. Lúc ấy, Nate khẩn thiết cầu xin Đức Cha trên trời cất đi những gì ngăn trở để người có thể đón nhận sự bình an mà Chúa hứa ban cho. Và “đùng một cái”, Nate tựa như nhìn vào mọi sự với đôi mắt khác. Lần đầu tiên người thật sự hiểu được câu Kinh Thánh: “Hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” Và cùng lúc, Nate nhìn vào lối sống xưa cũ của mình và nhận thấy cứ chạy theo cuộc đời tạm bợ này thật là một điều rồ dại.

Nate nghĩ rằng người sẽ từ giã nghiệp phi hành để trở lại trường để được trang bị cho việc phụng sự Chúa Trời. Nhưng vào lúc đó Nate biết đến “Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không” (Missionary Aviation Fellowship viết tắt là MAF). Chẳng bao lâu, Nate gặp hai cựu phi công hải quân thiết lập hiệp hội này. “Giáo sĩ phi hành”, đây thật là công việc lý tưởng, gần như đặc biệt sửa soạn cho Nate vậy. Nate bắt đầu luyện tập trở lại cách lái phi cơ hạng nhẹ. Vào tháng 7 năm 1946 công việc đầu tiên của Nate với Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không là đi Mexico để sửa chiếc máy bay bị hư khi đáp xuống. Vào mùa đông 1947 – 1948, người ghi danh học ở đại học Wheaton. Nhưng thời gian học tập bị cắt ngắn lại vì Ecuador đang cần phi công. Và vào tháng 9, Nate và một người phi công của Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không bay đi Ecuador.

Tiểu Sử Của Roger Younderian

Roger sinh tại Montana, là người con thứ bảy của một gia đình có trại chăn nuôi súc vật. Từ nơi mẹ, người được dạy dỗ tận tường trong đường lối của Chúa Trời. Vào năm chín tuổi, Roger mắc bịnh tê liệt (polio). Lên trung học, người khắc phục được ảnh hưởng của bịnh bại mà có thể chơi bóng rỗ. Hết trung học, Roger vào đại học “Montana State College” với ba học bổng và dự tính trở thành giáo sư canh nông. Năm 1942 Roger được chọn làm sinh viên thứ nhất xuất sắc nhất, nhưng tháng 10 năm 1943 Roger quyết định nhập ngũ và sau cùng người trở thành lính nhảy dù.

Trong một bức thư gởi mẹ, Roger nói rằng: “ngày vui mừng nhất trong đời là lúc con tin vào Chúa Giê-su. Khi con thật sự ăn năn và tin vào Chúa Giê-su làm Cứu Chúa thì con kinh lịch được sự tha thứ của ngài. Tìm hiểu lời Kinh Thánh là nguồn hy vọng và vui thú lớn nhất của con.”

Năm 1944 Roger sống sót sau lần nhảy dù ở Rhine và được tuyên dương công trạng về trận chiến ở Bulge, và người bắt đầu ngẫm nghĩ về việc hiến dâng trọn vẹn cuộc đời của mình cho Chúa Trời. Vào tháng 8 năm 1945, từ Bá-linh ở Đức, người viết thư cho mẹ: “Con có một bí mật muốn nói cho mẹ nghe. Mùa thu vừa qua, từ lúc tin vào Chúa Giê-su con ước mong làm tròn ý muốn của ngài. Hiện giờ con không biết Chúa Trời sẽ kêu gọi con làm gì, nhưng con ước ao làm chứng cho Chúa Giê-su và bước đi theo ngài.” Vào năm 1946, sau khi khẳng định Chúa kêu gọi mình đi rao truyền Tin Lành, Roger trở lại trường Northwestern để học. Nơi đây người gặp Barbara Orton đang học ngành “giáo dục Tin Lành” với ý định truyền giáo. Hai người quen biết và kết thân với nhau. Tháng 9 năm 1950, hai người cùng ghi tên học khóa “y tế truyền giáo”, và đúng một năm sau thì họ thành hôn với nhau. Năm 1953, Roger và Barbara cùng đứa con 6 tháng Beth Elaine lên đường đi Ecuador.

Năm Vị Giáo Sĩ Bị Thảm Sát Bởi Thổ Dân Auca

Công Việc Rao Truyền Tin Lành Cho Người Auca 

Ecuador là một nước ở Nam Mỹ, theo chánh thể cộng hòa. Thủ Đô Quito nằm sát dưới Xích Đạo. Năm vị giáo sĩ đều từng sống ở Quito một khoảng thời gian. Họ tiến về khu rừng phía đông, vượt qua những ngọn núi thuộc dãy Andes cao ngắt, rồi lại lặn lội xuống khu “rừng mưa”. Muốn đi đến đó, họ chỉ có thể lựa chọn một trong hai phương tiện di chuyển: hoặc đi bằng một loại phi cơ thương nghiệp nhỏ, chuyến bay thì mỗi tuần chỉ có một lần, hoặc đi bằng một loại xe lửa mà giờ khởi hành không nhất định. Hai thầy Jim và Pete đã chọn đường bộ trong chuyến đi đầu tiên vào khu rừng rậm. Đường xe rất gồ ghề, nhưng phong cảnh thì tuyệt đẹp.

Tại địa điểm Bãi Dừa (Palm Beach) là nơi mà 5 vị giáo sĩ đang chờ đợi những người thổ dân Auca xuất hiện. Một trong những việc đầu tiên mà các thầy phải làm là lựa chọn một thân cây để xây một căn nhà. Nhà được dựng lên cách mặt đất khoảng chín thước, điều này bảo đảm sự an ninh vào đêm, đặc biệt là khi ngọn đèn dầu được đốt ở dưới thân cây làm sáng tỏ cả khu vực.

Auca là một bộ lạc hung tợn khét tiếng, chưa hề có người ngoài thăm viếng, nếu có ai viếng thăm thì chắc khó mà toàn mạng sống trở về. Sau những lần trao đổi quà và những thông điệp, những đám ứng thiện cảm của người Auca đã khuyến khích các vị giáo sĩ tiến triển công việc gặp gỡ với dân Auca hầu chia sẻ Tin Lành của Chúa Giê-su cho họ.

Thầy Nate tìm nơi có thể làm bãi đáp cho phi cơ. Để chuẩn bị, thầy đã phải mất sáu chuyến bay để chuyên chở tất cả các vật dụng cần thiết đến Bãi Dừa. Vào ngày 2 tháng giêng năm 1956, năm vị giáo sĩ đã đặt chân lên Bãi Dừa.

Đang khi các thầy ở trên bãi, thì Betty là vợ của thầy Jim ở tại tram Shandia đón nghe tin tức về Bãi Dừa. Cứ mỗi chuyến bay của thầy Nate, thì Marjorie vợ của thầy Nate đều đi ra ngoài để quan sát thời tiết, và bà sẽ cho thầy Nate biết tình hình khí tượng trước khi phi cơ đáp xuống. Nếu không có những phương tiện thông tin qua làn sống ngắn radio thì chương trình phi hành sẽ không thể thực hiện được.

Cuộc Gặp Gỡ Đầu Tiên Với Người Auca

Vào thứ sáu, ngày 6 tháng giêng năm 1956, sau ba ngày chờ đợi trên bãi, các vị giáo sĩ thấy ba người Auca xuất hiện, một người đàn ông và hai người đàn bà. Cả ba đều khá trẻ. Các thầy đặt tên cho họ, người đàn ông là “George”. Lẽ tất nhiên, đôi bên đều không hiểu nhau, chỉ trừ vài tiếng mà thầy Jim đã học được từ một phụ nữ người Auca. Chàng “George” xem có vẻ rất tự nhiên. Anh lấy làm thích thú về phi cơ, thậm chí anh ta còn xin được bay một vòng, khi bay đến ngôi làng mình, anh ta vui mừng cười khúc khích và còn nghiêng mình ra ngoài để vẫy tay và kêu lớn tiếng khi thấy những khuông mặt quen thuộc. Trở về Bãi Dừa thì George nhảy xuống phi cơ và vỗ tay mừng rỡ. Còn “Delilah”, một trong hai người đàn bà Auca trẻ tuổi thì mê say về cách cấu tạo của phi cơ. Cô cọ xát người vào thân phi cơ và dùng cánh tay mình bắt chước cách bay lượn. Thầy Nate bèn trao tặng cho cô một chiếc phi cơ kiểu mẫu nhỏ, cô ta vui sướng tiếp nhận món quà này.

Các giáo sĩ thấy George đặc biệt để ý đến chiếc phi cơ, họ cố gắng giải thích cho anh hiểu cách xây một bãi đáp tại ngôi làng anh. Lúc đầu George không hiểu danh từ “cây” mà các thầy nói bằng tiếng Auca. Cuối cùng khi anh hiểu ý, anh giúp họ sửa cách phát âm cho đúng. Các thầy cặm vào bãi cát những khúc củi tượng trưng cho những “thân cây” chưa đốn đi. Với chiếc máy bay kiểu mẫu nhỏ, thầy Nate cho George thấy rằng phi cơ sẽ bị rớt và đâm vào những thân cây. Rồi các thầy diễn lại cảnh này, nhưng lần này dùng những dao dài để đốn “thân cây” mà xây bãi đáp. Các vị giáo sĩ cũng cho ba người khách coi những vật kỳ lạ tân tiến. Ba người Auca này trông rất bình tĩnh, thoải mái và tự nhiên. Họ có vẻ hồn nhiên và thân thiện. Các thầy mong rằng họ được mời đi thăm viếng ngôi làng Auca. Vào buổi chiều tối, ba người khách rời khỏi Bãi Dừa. Các thầy trông đợi họ trở lại.

Vào trưa Chúa Nhật, ngày 8 tháng giêng 1956, thầy Nate báo tin cho bà vợ là Marjorie biết rằng trên phi cơ thầy đã nhìn thấy một đoàn mười người Auca đang đi trên đường. “Không chừng họ sẽ đến Bãi Dừa vào buổi chiều hôm nay. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi.” Thầy Nate cảm thấy đây là thời điểm Chúa Trời đã chọn để họ gặp gỡ người Auca, và thầy hẹn sẽ liên lạc với bà vợ vào lúc 4 giờ 30 chiều.

Đúng 4:30 chiều ở trạm Shell Mera, Marjorie bật máy thu làn sóng ngắn chờ đợi tin tức. Đây là thời điểm trọng đại, bà tự nhủ và hỏi: “Không biết các thầy có được mời đến thăm viếng ngôi làng Auca không? Có những diễn tiến gì mà Nate sẽ thông báo cho tôi biết nữa đây?” Nhưng máy không nhận được dấu hiệu nào cả. “Đồng hồ của Nate có đi trễ không?” Marjorie và Olive vợ thầy Pete Fleming nóng lòng chờ đợi. Ở Arajuno, hai bà Marilou vợ thầy Ed và Barbara vợ thầy Roger liên lạc với Shell Mera. Nhưng hoàn toàn yên lặng!

Thời gian trôi qua, 5 phút, 10 phút… Chẳng lẽ họ lo tiếp đón đến nỗi quên liên lạc với vợ sao? Vô lý quá, chuyện gì đã xảy ra? Sự gặp gỡ với người Auca đã diễn ra như thế nào?

Chuyện Gì Đã Xảy Ra Trên Bãi Dừa

Không chừng radio của các thầy không chạy, điều này đôi khi cũng xảy ra. Những người vợ nắm lấy từng tia hy vọng nhỏ, họ không muốn nghĩ đến những chuyện không may. Ở Arajuno, Barbara và bé Beth Youderian có vẻ phấn khởi hơn một chút, vì theo dự tính thì thầy Roger sẽ đến Arajuno tối nay. Chắc chắn chiếc máy bay tí hon sẽ xuất hiện ở trên đỉnh cây trước khi mặt trời lặn. Barbara và Beth cứ đi tới đi lui dọc theo bãi đáp, chờ đợi.

Thứ hai, ngày 9 tháng giêng, 1956, vào lúc 7 giờ sáng, Johnny Keenan, bạn của Nate Saint trong “Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành” bay về phía Bãi Dừa. Trong lúc đó Marjorie gọi Betty vợ thầy Jim ở Shandia qua máy radio làn sóng ngắn cho biết rằng: “Hoàn toàn không nhận được tin tức gì của các thầy từ trưa hôm qua đến giờ.” Betty biết rằng chắc có điều gì không hay xảy đến. Một câu Kinh Thánh mà Chúa Trời đã in sâu vào tâm trí của bà khi mới đến Ecuador đột nhiên trở lại một cách rõ rệt: “Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng ngươi, và khi qua các sông, chúng sẽ không tràn ngập ngươi…” Betty lên trên lầu tiếp tục giảng dạy lớp đọc và viết cho các chị em thổ dân, vừa im lặng cầu nguyện: “Chúa ơi, chớ để các dòng nước tràn lấp con.”

Vào khoảng 9 giờ rưởi, Marjorie vợ thầy Nate cho biết tường trình của Johnny. Chiếc phi cơ màu vàng đã được tìm thấy trên bãi, tất cả những lớp vải bọc cánh đều bị xé đi, và hoàn toàn không thấy bóng người.

Tối hôm đó các nhân viên quyết định tổ chức một toán cứu cấp đường bộ. Frank Drown là một giáo sĩ bạn của Roger, thầy làm việc trong bộ lạc Jivaros, thầy có 12 năm kinh nghiệm về đi rừng, cho nên thầy sẽ hướng dẫn toán đó. Bác sĩ Art Johnston, một vị y sĩ liên hệ với đài radio truyền giáo ở Quito, thủ đô của Ecuador, cũng tình nguyện cùng đi để lo về vấn đề y tế. Mười ba binh sĩ Ecuador cũng xin tham dự.

Thứ tư, Johnny Keenan lại bay một lần nữa trong chiếc phi cơ thứ hai của Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành về hướng Bãi Dừa để xem có dấu hiệu sự sống gì không. Marjorie đang túc trực chờ Johnny báo cáo, từ chiều Chúa Nhật đến giờ bà gần như chưa hề rời máy radio. Barbara, Olive vợ của thầy Pete và Betty đang ở trên lầu. Bất thình lình, Marjorie kêu lên: “Betty! Barbara! Olive!” Betty vội chạy xuống lầu, Marjorie đang đứng đó và đầu dựa vào radio, mắt bà nhắm lại. Sau một hồi, bà nói: “Johnny thấy một xác chết.”

Cách nơi chiếc phi cơ truyền giáo màu vàng khoảng hơn 400 thước, Johnny nhìn thấy một cái xác nổi lên trên sông, mặt úp xuống, mặc quần kaki và áo T-shirt trắng, đó là đồng phục quen thuộc của các thầy. Barbara nhận thấy đây không phải là Roger, vì thầy Roger mặc quần jeans màu xanh dương. Tiếng radio lại vang lên, lại nhìn thấy một cái xác khác, khoảng 70 thước ở phía dưới Bãi Dừa. Mọi người đều không biết hai cái xác đó là ai.

Thứ năm, sau khi cắm trại qua đêm tại Oglan, toán cứu cấp đường bộ khởi hành và tiến vào một cách thận trọng dọc theo sông Curaray hướng về Bãi Dừa. Một nhóm khác là thổ dân Quichuas trong hai chiếc xuồng tiến lên từ hạ lưu của con sông, nhắm về hướng của toán cứu cấp. Họ là một nhóm thổ dân thuộc trạm của thầy McCully tại Arajuno. Họ đã chủ động và can đảm đi trước mọi người tiến vào Bãi Dừa thuộc lãnh thổ của bộ lạc Auca.

Khi một Tín Đồ trong nhóm thổ dân Quichuas này báo tin cho biết đã tìm thấy xác của thầy Ed ở trên bãi ngay tại mé nước, mọi người đều đau lòng. Anh Tín Đồ thổ dân này đem theo đồng hồ đeo tay của Ed. Bấy giờ các giáo sĩ trong toán cứu cấp biết rõ một trong hai người đã gục ngã là ai, nhưng họ nghĩ rằng vẫn còn hy vọng, không chừng ba người kia có thể sống sót. Họ tiếp tục cuộc hành trình. Tối đó, họ dừng lại và cắm trại ở El Capricho là nơi dân Auca đã từng giết vài người. Họ dựng lên vài cái chòi lá nhỏ, đặt toán canh gác gồm 2 vị giáo sĩ, hai binh sĩ Ecuador và hai thổ dân Quichuas.

Trong ngày đó, thiếu tá không quân Nurnberg của toán đường bay trong chiếc trực thăng quân sự đáp xuống Bãi Dừa trước tiên. Ông nhảy xuống và nhìn chung quanh, những giây phút lo lắng trôi qua, ông điện về: “Không có ai ở đây cả.” Trực thăng lại cất cánh, bay chậm dọc theo con sông, qua bên kia bờ rồi dừng lại. Mấy phút sau, ông lại tiếp tục tiến lên và dừng lại khoảng 200 thước xa hơn. Rồi lần thứ ba và lần thứ tư nữa, trực thăng như treo bất động cách mặt nước khoảng bốn thước. Bốn lần ngừng lại là bốn lần mục kích những cảnh đau lòng. “Chúng tôi đã tìm thấy bốn xác chết trong con sông.” Thiếu tá Nurnberg cho biết. Còn xác của Ed mà thổ dân Quichuas thấy thì lúc đó không còn trên bãi nữa. Không chừng đã bị đẩy trôi đi bởi cơn mưa và dòng nước lớn tối hôm qua.

Sáng thứ sáu toán đường bộ tiếp tục chặng đường cuối cùng để đến Bãi Dừa. Họ thấy chiếc phi cơ truyền giáo màu vàng với đôi cánh bị xé và lột đi, và những xác chết nằm dọc theo bờ sông. Khung cảnh thật là kỳ quái. Một cơn giông to kéo đến dưới bầu trời nhiệt đới. Mưa trút xuống như nước đổ. Các vị giáo sĩ trong toán cứu cấp rất mệt mỏi, họ nhìn lần chót những người bạn của họ mà thân thể không còn nhận ra được là ai. Một vị nói: “Như vậy tốt hơn, tôi cảm thấy đỡ đau đớn.”

Liền sau lễ mai táng, thiếu tá Nurnberg hướng dẫn toán cứu cấp đường bộ ra khỏi nơi nguy hiểm. Chiếc xuồng chở đầy người và di vật của các vị giáo sĩ tử nạn từ từ rời Bãi Dừa. Vừa đi đường bộ lẫn đường sông, khi xuyên qua lãnh địa của dân Auca, tay của mọi người đặt trên cò súng, những đôi mắt nhìn cách khẩn trương quan sát khu rừng chung quanh.

Thứ bảy, khoảng trưa đoàn người vượt ra khỏi ranh giới của người Auca một cách an toàn. Họ ngủ đêm tại một nơi cách Arajuno 6 tiếng đồng hồ bằng đường bộ. Hôm sau, 3 giờ chiều Chúa Nhật họ về đến Arajuno, mang theo những bộ phận còn lại của chiếc phi cơ cùng với những cây lao đã giết hại các vị giáo sĩ mà họ đã tìm thấy trên Bãi Dừa.

Tâm Linh Tôi Yên Ninh Thay

Tại trạm truyền giáo Shell Mera, những bà vợ của năm vị giáo sĩ tử nạn đang chờ đợi. Qua thông tin của máy radio, họ đều biết rằng các thầy đã bỏ mạng. Nhưng họ muốn biết rõ mọi chi tiết. Thiếu tá Nurnberg bắt đầu kể những gì ông biết cho bà Marjorie vợ thầy Nate trong khi hai bà Olive và Barbara đứng nhìn. Sau đó mọi người đều tụ lại trong nhà bếp. Mở sổ tay của ông ra, thiếu tá Nurnberg kể lại những gì ông đã thấy: “Một xác chết vướng ở dưới nhánh của một cây ngã xuống, chỉ thấy một bàn chân mang vớ màu xám hiện ra ở trên mặt nước. Vị này mang một dây nịt lưng màu đỏ với loại chỉ đan.” Cặp mắt của bốn người vợ cùng nhìn về phía Olive Fleming. “Đó là Pete,” Olive nói một cách ngắn ngủi. “Một xác khác mặc T-shirt và quần jeans màu xanh.” Chỉ có mình Roger mặc quần jeans. Rõ ràng cả năm vị giáo sĩ đều bị những cây lao đâm vào thân thể mà chết đi. Trên thân ngọn lao đâm vào thân thể của Nate Saint có quấn một tờ truyền đạo đơn mà các thầy đã thả xuống cho người Auca. Gần chỗ tìm thấy thân thể của Jim Elliot thì có một cây lao phóng và cắm ở lòng sông.

Các khuôn mặt của 5 người góa phụ trẻ tuổi mang vẻ sầu tư và mòn mỏi, nhưng không hề có sự than trách hoặc tự thương hại. Steve, đứa con trai 3 tuổi của Nate Saint đang đứng ở ngoài hành lang, em có vẻ không hiểu chuyện gì đã xảy đến cho ba của mình, và chắc không nhận thức được điều mỉa mai về con két đang đậu kế bên. Con két đó là món qua mà người Auca đã tặng cho các thầy truyền giáo.

Sau cùng, phái đoàn quân sự rời khỏi một cách lặng lẽ. Hung tin họ mang đến đã được đón nhận một cách trầm tĩnh. Barbara viết lại:

“Chúa Trời cho tôi câu Kinh Thánh này cách nay hai hôm, Thi Thiên 48:14: “Vì Đức Chúa Trời này là Chúa của chúng ta đời đời vô cùng, Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta cho đến chết.” Khi tôi phải đối diện với hung tin của Roger, lòng tôi tràn đầy sự ngợi khen Chúa, vì Roger đã đến đây để làm theo ý muốn của Chúa, nên Ngài đã gìn giữ tâm hồn chúng tôi trong cơn đau buồn, khủng khiếp. Ngài còn khiến lòng chúng tôi tràn đầy sự bình yên hoàn toàn của Chúa.”

Không ai biết rõ chuyện gì đã xảy ra trên bãi, và tại sao sự gặp gỡ có vẻ thân thiện lúc đầu đã trở thành một cuộc thảm sát. Tại sao? Tại sao? Rất nhiều câu hỏi cần được nêu ra nơi đây: Tại sao thảm kịch này lại xảy ra? Rõ ràng các vị giáo sĩ này đã dấn thân trong đức tin để rao truyền Tin Lành, tại sao Chúa lại không bảo vệ họ? Đức Chúa Trời của họ ở đâu rồi? Còn công việc rao truyền Tin Lành giữa người Auca thì ra sao, có phải đã kết thúc với màn cuối của vở thảm kịch này chăng?

Tiếp Tục Công Việc Rao Truyền Tin Lành Cho Người Auca

Cầu Nguyện Cho Người Auca

Thư từ ở khắp nơi gửi về cho 5 vị quả phụ. Một bức thư từ một trường trung học bên Nhật Bổn nói rằng: “Chúng tôi đang cầu nguyện cho các vị”; có bức thư từ một nhóm các em trường Chúa Nhật người Eskimo ở Alaska; từ một Hội Thánh người Hoa ở Houston; từ một người truyền giáo ở vùng sông Nile của nước Ai-cập. Trên khắp thế giới người ta bắt đầu cầu nguyện cho người Auca. Chỉ trong tương lại ở cõi đời đời vô tận, chúng ta mới đếm được tất cả những lời cầu nguyện đã dâng lên cho những người quả phụ và con cái của họ, và cho công việc rao truyền Tin Lành mà 5 vị giáo sĩ đã bắt đầu.

Tiếp Tục Công Việc Của Các Vị Giáo Sĩ Tử Nạn

Nhiều kế hoạch được soạn ra tức thì để tiếp tục công việc của các thầy. Trạm ở Arajuno đã được chuẩn bị sẵn sàng trong trường hợp dân Auca tìm đến để liên lạc giao hảo. Những chuyến bay chở quà tặng cho người Auca được Johnny Keenan tiếp tục, hầu cho người Auca biết chắc rằng những người da trắng này chỉ có ý định thân thiện thôi. “Trả thù ư?” ý tưởng này chưa hề xảy đến trong tâm trí của các người vợ trẻ mất chồng hay các người giáo sĩ khác.

Bà Barbara vợ của thầy Roger dắt theo hai đứa con nhỏ trở về tiếp tục công việc giữa người Jivaros. Còn Betty vợ thầy Jim thì trở về Shandia với đứa con gái Valerie lúc ấy mới được mười tháng để tiếp tục công việc ở trạm Quichuas. Marjorie vợ thầy Nate đảm nhận một công việc mới ở Quito. Chỉ vài tuần lễ sau cái chết của chồng, bà Marilou vợ của thầy Ed về Mỹ sinh đứa con thứ ba. Sau đó, cùng các con, bà Marilou trở lại Ecuador làm việc chung với Marjorie vợ thầy Nate ở Quito. Về phần bà Olive, khi chồng của bà là Pete tử nạn, bà vừa mới đến và sống ở trong khu rừng được hai tháng. Về tương lai của bà Olive thì vấn đề khó khăn hơn. Tuy vậy, một điều bà biết chắc là, cũng như chồng mình, cuộc sống của bà thuộc về Chúa Trời và Ngài sẽ hướng dẫn đường lối cho bà.

Bà Betty Cũng Cầu Nguyện

Bà Betty cầu nguyện xin Chúa Trời mở đường, nhưng bà không biết phải đề nghị điều gì. Bà cũng xin Chúa Trời hãy sai một người đầy tớ của Ngài đến với người Auca để kể cho họ biết rằng 5 vị giáo sĩ chỉ muốn đến để giúp họ nhận biết Đức Chúa Trời, Ngài đã sáng tạo ra họ, và Ngài cũng thật sự quan tâm họ, Ngài là Đấng xứng đáng được họ tin tưởng vào. Lúc ấy bà cũng nói, nếu Chúa Trời muốn, bà sẵn sàng đi làm công việc này. Nhưng điều này xem có vẻ phi lý, nếu 5 vị giáo sĩ đã bị giết, thì thử hỏi ai lại có thể thành công. Tuy vậy bà Betty biết rằng Đức Chúa Trời có thể làm điều này nếu Ngài muốn, và đây mới chính là lý do để cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là một điều vô ích.

Dayuma, Mintaka và Mankamu

Tháng 11 năm 1957, lúc Betty đang ở trạm Arajuno của thầy McCully lúc trước, hai thổ dân Quichuas đến từ sông Curaray báo tin cho bà biết rằng có hai người đàn bà Auca vừa rời bỏ bộ lạc mà đi thẳng vào làng của người Quichuas và hiện đang ở tại nhà họ. Betty ngay lập tức cùng đi để gặp họ. Hai người đàn bà Auca đó tên là Mankamu và Mintaka. Ít lâu sau, hai cô này cùng Betty trở về Shandia. Cô Rachel Saint, chị của thầy Nate, cũng chia sẻ với Betty những tài liệu quý giá về ngôn ngữ Auca. Cô Rachel đã học tiếng Auca từ một người phụ nữ người Auca tên là Dayuma. Cô Auca này đã ở chung với Rachel được nhiều năm rồi. Betty mới dùng những tài liệu này làm nền tảng và bắt đầu học tiếng Auca với hai người phụ nữ Mintaka và Mankamu.

Betty không ngừng cầu nguyện xin Chúa Trời dẫn dắt họ đi vào bộ lạc Auca. Một ngày kia, khi Dayuma, Mintaka và Mankuma gặp nhau, họ quyết định sẽ về thăm nhà. Có người nói với Dayuma rằng: “Mẹ của cô vẫn còn sống, bà ấy muốn cô trở về nhà.” Thế rồi họ trở về bộ lạc Auca. Cô Rachel và bà Betty chờ đợi họ.

Lời Cầu Nguyện Được Nhận

Trong thời gian thăm nhà, các cô Auca này nói về những người xa lạ tốt lành rất đáng kính mến. Các cô này đã thuyết phục được người Auca rằng có những người ở ngoài bộ lạc rất tốt, ấy là những người muốn đến sống với người Auca để kể cho họ biết về Giê-su, ngài là một người tốt. Họ cần phải nghe những câu chuyện của Giê-su và học cách nói chuyện với Đức Chúa Trời, học cầu nguyện. Sau cùng họ nói rằng: “Vâng, hãy để những người ngoài đến, chúng tôi không cần phải giết nữa đâu.” Khi Dayuma, Mintaka và Mankamu trở lại Arajuno, họ dẫn theo bảy người Auca. Họ mời Rachel, Betty và Valerie, đứa con gái nhỏ của Betty cùng đến sống tại bộ lạc Auca.

Bà Betty và Cô Rachel đã cầu nguyện xin điều này, nhiều người khác cũng cầu nguyện xin điều đó nữa. Betty nghĩ tới những lời của tiên tri Êsai 50:7: “Vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ giúp tôi, nên tôi chẳng bị bối rối, bởi vậy tôi làm mặt tôi cứng như đá, vì biết mình sẽ chẳng bị hổ thẹn.” Họ biết đây là việc làm của Đức Chúa Trời, nên họ đi.

Tháng 10 năm 1958, hai năm rưởi sau khi các vị giáo sĩ bị giết, Betty cùng với em bé Valerie và Cô Rachel bắt đầu đi vào xứ Auca qua phương tiện và sự giúp đỡ của người Quichuas. Chuyện gì sẽ xảy ra? Người Auca tiếp đón cô Rachel, Valerie và bà Betty như thế nào? Họ sống như thế nào tại làng Auca? Liệu họ có thể thích ứng với đời sống mới của nền văn minh thời kỳ đồ đá hay không? Tin Lành được rao truyền như thế nào?

Giáp Mặt Với Người Auca

Ở đó bà Betty, Valerie và cô Rachel giáp mặt với người Auca. Người đầu tiên họ gặp là “Delilah”, cô em gái nhỏ nhất của Dayuma, chính cô là người bày tỏ sự thân thiện với 5 vị giáo sĩ trên Bãi Dừa, ba ngày trước khi 5 vị ấy tử nạn. Betty phải nhắc nhở cho mình rằng đây là những người đã giết các vị giáo sĩ. Họ mang tiếng là một sắc tộc dã man nhất trên thế giới. Dầu họ rất dã man, họ cũng là con người, cũng cười, cũng giỡn và tắm rửa. Họ không tỏ vẻ thù nghịch gì đối với bà.

Thế thì tại sao họ lại giết 5 vị giáo sĩ? Có một anh người Auca chính là một trong những người tham dự vào cuộc thảm sát. Betty được biết họ cũng có quan niệm chính xác về những điều phải hay trái, cho dù quan niệm của họ hơi khác với người ngoài. Họ tin rằng giết người là sai lầm ngoại trừ trong trường hợp đặc biệt. Một người trong họ nói rằng, họ lầm tưởng rằng 5 vị giáo sĩ là những kẻ ăn thịt người. Có những người ở ngoài bộ lạc Auca đã giết người để ăn thịt. Lẽ dĩ nhiên nếu những kẻ ăn thịt người tìm đến người Auca, thì tiêu diệt họ là điều phải lẽ và hợp lý. Thật ra, chính sự sợ hãi đã thúc đẩy họ đến việc giết hại 5 vị giáo sĩ, mà bây giờ họ nhận thức điều đó là sai lầm.

Sống Với Người Auca

Như vậy Betty, em bé Valerie và cô Rachel bắt đầu cuộc sống với người Auca. Họ nghĩ rằng phương cách hay nhất là ráng sống như người Auca, ăn cùng một loại thức ăn như người Auca, làm những việc làm của người Auca. Người Auca đối xử tử tế với Rachel, Valerie và Betty. Họ cho Rachel một chỗ ngủ trong căn chòi. Họ giao cả cái nhà cho Betty và Valerie. Nhà của họ chỉ có một cái nóc, không có tường, không có sàn, không có cửa và cũng không kín đáo. Khi mái nhà bắt đầu bị dột, họ hợp lá lại cho Betty và Valerie.

Nói chuyện là một khó khăn thường xuyên. Betty cũng không thể đặt hơn một hay hai câu ngắn. Rachel và Betty ráng phân tích và tập nói. Thử ghi lại một thứ tiếng xa lạ với cách phát âm riêng biệt không có văn viết là điều khó khăn vô cùng. Còn Valerie thì không có khó khăn gì cả. Với khả năng bắt chước và trí nhớ của đứa bé ba tuổi, em có thể trao đổi với người Auca. Em Valerie cho các em bé người Auca coi những sách hình và dạy chúng cách cầm viết và vẽ. Đây là cách học ngôn ngữ hay nhất.

Khoai mì là thức ăn chính của thổ dân. Họ dùng khoai mì mỗi buổi ăn. Ngoài những thức ăn do phi cơ tiếp tế thả xuống, Betty, Valerie và Rachel cũng tập ăn khoai mì cùng những món ăn khác mà thổ dân cho họ.

Ngày trọng đại của mỗi tuần là lúc phi cơ đến thả đồ tiếp tế. Lúc đó còn  chưa có phi đạo, nhưng viên phi công thành thạo trong việc nhắm vào khoảng đất trống không cây cối. Ông cho phi cơ bay ở cao độ rất thấp rồi thả đồ xuống, thường thường những món này rơi ngay vào trung tâm điểm.

Vào sinh nhật của bé Valerie, cháu còn nhận được bánh sinh nhật được thả xuống bằng dù. Bánh ấy đến trọn với đủ bộ đèn cầy, và cũng có vài con kiến nữa. Hiển nhiên, điều này không làm Valerie hay các em khác thấy khó chịu khi chia bánh với nhau. Ngoài ra, cháu cũng nhận được bong bóng, Betty và Rachel đã dùng bong bóng đó trong dịp tổ chức sinh nhật cho các trẻ em Auca.

Tại đây một vài tháng sau khi Betty, Rachel và em bé Valerie đến, tất cả các thổ dân Auca đều có áo quần để mặc. Cô Dayuma đã học may và đã bỏ rất nhiều thì giờ để may quần, áo sơ mi, và y phục cho phụ nữ. Vài người trong thổ dân mặc y phục thường xuyên, nhưng có những người khác thì không muốn bắt chước cách ăn mặc của người ngoại quốc.

Betty đã giới thiệu rất nhiều đồ vật mới cho thổ dân Auca. Chẳng bao lâu, họ biết cây kéo là dùng để làm gì, và họ muốn được cắt tóc. Lúc trước họ thường dùng một loại vỏ xò bén lượm từ con sông. Nhưng bây giờ thì Betty dùng phương pháp mới để cắt tóc cho họ. “Kakady” là tên Auca của Betty, và bà sẵn sàng làm cô thợ hớt tóc cho họ.

Nói Về Đức Chúa Trời Cho Người Auca

Cô Dayuma giải thích cho thổ dân Auca rằng một ngày trong tuần lễ là ngày Chúa, và vào ngày Chúa cô sẽ nói về Đức Chúa Trời cho họ nghe. Mọi người được mời ngồi xuống và yên lặng. Cô kể cho họ nghe những câu chuyện rất đơn giản từ thời Cựu Ước và những chuyện Chúa Giê-su đã làm, cô dùng những ví dụ hay tranh ảnh, kèm theo những cách áp dụng trong đời sống của thổ dân Auca. Cô Dayuma kể rằng Chúa Giê-su dạy chúng ta chớ giết người. Ngay lập tức, một người đàn ông thổ dân ngưng làm lao. Có những lần họ cần cây lao để giết heo rừng, và sau khi họ giải thích rất rõ ràng cây lao mà họ đang làm là dùng để làm gì, họ mới làm những cây lao mới.

Tháng 11 năm 1958

Tháng 11 năm 1958, kể từ buổi chiều Chúa Nhật mà 5 vị giáo sĩ tử nạn đến nay đã gần 3 năm trôi qua. Hôm nay Betty ngồi trong một căn chòi nhỏ lợp lá bên dòng sông Tiwanu, chỉ cách Bãi Dừa một vài dặm về phía tây nam. Cách chỗ Betty ngồi khoảng vài thước, trong một ngôi nhà lá có hai người, họ là 2 trong 7 người đã giết 5 vị giáo sĩ. Gikita, một trong hai người ấy, vừa mới giúp nướng chuối sống cho Valerie, cô bé bấy giờ đã được ba tuổi rưởi.

Những truyện kỳ lạ như thế làm sao có thể xảy ra? Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng đã làm cho một khối sắt nổi lên, làm cho mặt trời đứng lại, và nắm trong tay hơi thở của tất cả mọi sự sống, chỉ có Đức Chúa Trời như thế, Đấng đời đời vô cùng mới có thể làm một việc lạ lùng như vậy.

Tin Lành Là Quyền Năng Của Chúa

Về sau, người ta thường hỏi rằng: “Chuyện gì đã xảy đến cho bộ lạc Auca? Có bao nhiêu người tin vào Chúa? Có người rao truyền Tin Lành cho những bộ lạc khác hay không?”

Cũng có nhiều người hỏi rằng: “Tại sao những người đã tin cậy vào Chúa Trời để  bảo vệ và thuẫn che họ lại bị lao đâm chết như thế?” Câu hỏi này không thể trả lời một cách dứt khoát. Chúng ta cũng không sao tìm được câu trả lời vừa ý mà chỉ có giao phó cho Chúa Trời.

Đối với người đời, câu chuyện kể trên là một sự mất mát đáng tiếc của 5 mạng sống trẻ tuổi. Nhưng Chúa Trời có chương trình và mục đích trong mọi sự. Cuộc đời của rất nhiều người đã thay đổi hẳn vì sự hy sinh của 5 vị giáo sĩ này. Ở Brazil, có một nhóm thổ dân tại một trạm truyền giáo nọ, khi nghe tin họ đã quì xuống và kêu cầu Chúa Trời tha thứ những đồng bào Auca này. Một vị thiếu tá không quân Mỹ đang đóng ở bên Anh lập tức bắt đầu dự tính gia nhập vào “Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành.” Một người truyền giáo ở Phi Châu viết: “Công việc của chúng tôi sẽ không bao giờ như xưa nữa. Chúng tôi quen biết 2 trong 5 vị giáo sĩ tử nạn. Cuộc đời của họ đã để lại một dấu ghi trong lòng chúng tôi.” Ở tiểu bang Iowa, một cậu thanh niên 18 tuổi cầu nguyện trong phòng suốt tuần, sau đó anh này báo tin cho cha mẹ mình rằng anh đã giao phó trọn vẹn cuộc đời cho Chúa Trời. Anh muốn thử thay thế và tiếp tục công việc của 1 trong 5 vị giáo sĩ tử nạn.

Vài năm sau, Betty trở về nước Mỹ, nhưng cô Rachel ở lại tiếp tục làm việc giữa người Auca trong mấy chục năm. Cô tiếp tục rao truyền tình thương của Chúa Giê-su cho dân Auca, nhưng cô không muốn tra hỏi hoài tại sao người Auca lại giết 5 vị giáo sĩ đó, cô thấy rằng câu trả lời không cần thiết và không quan trọng, cô cứ giao phó mọi việc trong tay của Chúa. Rất nhiều người Auca trở thành Tín Đồ của Chúa, và họ đổi tên của bộ lạc họ là “Waorani”, họ không muốn được gọi là người Auca nữa. Vì “Auca” trong tiếng Quichua mang ý nghĩa là tàn phá.

Cô Rachel và một cô truyền đạo khác tên là Catherine Peeke đã ráng học tiếng Waorani, và còn tạo ra chữ viết cho họ, vì dân Waorani không có chữ viết. Rachel và Catherine đã phiên dịch những bộ phận trong Kinh Thánh thành ra ngôn ngữ Waorani.

Cảnh Tượng Bọn Thiên Sứ Ca Hát Trên Không Trung

Ba mười ba năm sau (tức là năm 1989), một người phụ nữ Waorani tên là Dawa và một người đàn ông tên là Kimo nói ra một câu chuyện rất kỳ diệu. Lúc đó cả hai đều đã trở thành Tín Đồ Cơ Đốc. Họ là những người có mặt trong cuộc thảm sát 5 vị giáo sĩ. Năm vị giáo sĩ tuy có súng trong tay, nhưng họ không dùng súng để giết hại người Auca khi họ bị người Auca cung kích. Sau khi 5 vị giáo sĩ đã bị giết rồi, xác của họ còn nằm rải rác trên bãi biển, các thổ dân Auca bổng nghe ở trên đầu có tiếng ca rất lớn. Họ ngửng đầu lên nhìn qua những ngọn cây thì thấy có một nhóm người rất đông ở không trung đang lớn tiếng ca hát, tiếng ca của họ hình như “một trăm cây đèn hiệu.” Lúc đó các thổ dân không hiểu đấy là các thiên sứ đang ca hát rước chào các vị giáo sĩ trở về Thiên Đàng. Các thổ dân rất sợ hãi khi nhìn thấy có nhiều người xuất hiện trên bầu trời, họ nghĩ rằng có phải tại vì việc thảm sát đó đã gây ra chuyện kỳ lạ như vậy. Nhưng cảnh tượng này đã in sâu vào trong lòng của Dawa và Kimo, và cũng là cảnh tượng này đã thúc đẩy họ tin vào Chúa Giê-su. Và 5 năm sau cuộc thảm sát này thì Dawa là kẻ đầu tiên trở thành Tín Đồ của Chúa Giê-su trong bộ lạc của họ. Mãi cho đến khi Dawa và Kimo trở thành Tín Đồ Cơ Đốc rồi, thì họ mới hiểu cảnh tượng họ thấy hôm đó là các thiên sứ ca hát đón chào 5 vị giáo sĩ trở về nhà trên Thiên Đàng.

Pete, Ed, Roger, Nate và Jim đã hiến dâng cuộc đời của họ để rao truyền Tin Lành cho dân Waoranis. Khi họ bị giết thì hình như việc làm của họ đã thất bại. Nhưng 33 năm sau, một bộ lạc tàn bạo thì sống hòa hảo với những người dân khác ở lân cận và truyền giảng Tin Lành của Chúa. Theo lời của Dawa và Kimo thì cả công trình này đều bắt đầu từ cảnh tưởng bọn thiên sứ ca hát như một trăm cây đèn hiệu.

Bộ Tân Ước Viết Bằng Ngôn Ngữ Waorani

36 năm sau cuộc thảm sát (tức là năm 1992), thì dân Waorani có bộ Tân Ước đầu tiên viết bằng ngôn ngữ của họ. Trong buổi lễ tạ ơn chúc mừng bộ Tân Ước bằng ngôn ngữ Waorani, người lãnh đạo của dân Waorani nói rằng: “Bây giờ chúng ta không còn sống như trước kia nữa. Trước kia chúng ta chém giết lẫn nhau và cũng giết hại người ngoài nữa, bây giờ chúng ta muốn sống theo lời Chúa Giê-su giảng dạy. Từ hồi tôi còn là một cậu bé nhỏ trong bộ lạc, tôi đã nghe nói rằng chúng ta sẽ được quyển sách này, thì bây giờ ước vọng trong bao nhiêu năm đã thực hiện, chúng ta có quyển Tân Ước này trong tay rồi!”

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (5)

Tôi Nhận Biết Đức Chúa Trời Như Thế Nào

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Bản in PDF

Tiếp Tục Việc Học Tập Tại Đại Học Luân Đôn

Khi tôi rời Ê-cốt, một trong những chuyện sau cùng mà ông McBeath nói với tôi là: “Con Hòa, con phải tiếp tục học lên trình độ cao hơn, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho con ân điển. Con phải nắm lấy ân điển này mà học thêm. Bởi vậy con nên đi Luân Đôn tiếp tục theo đuổi học vấn tại đó.” Nói thiệt thì tôi không muốn theo đuổi học vấn nữa. Ngọn lửa đang cháy hừng hực trong lòng tôi và tôi muốn đi truyền giảng Tin Lành. Tôi không muốn tốn thêm thì giờ ngồi trong lớp học để theo học những môn làm tôi chán đến chết. Tôi không hề thích trường học. Tôi yêu sân vận động nhưng tôi không thích trường học.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (5)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Tiếp Tục Việc Học Tập Tại Đại Học Luân Đôn

Khi tôi rời Ê-cốt, một trong những chuyện sau cùng mà ông McBeath nói với tôi là: “Con Hòa, con phải tiếp tục học lên trình độ cao hơn, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho con ân điển. Con phải nắm lấy ân điển này mà học thêm. Bởi vậy con nên đi Luân Đôn tiếp tục theo đuổi học vấn tại đó.” Nói thiệt thì tôi không muốn theo đuổi học vấn nữa. Ngọn lửa đang cháy hừng hực trong lòng tôi và tôi muốn đi truyền giảng Tin Lành. Tôi không muốn tốn thêm thì giờ ngồi trong lớp học để theo học những môn làm tôi chán đến chết. Tôi không hề thích trường học. Tôi yêu sân vận động nhưng tôi không thích trường học.

Bây giờ ông McBeath lại bảo tôi nên học cao hơn, và tôi nghĩ rằng: “Ồ, không.” Nhưng khi một người đầy tớ của Đức Chúa Trời nói chuyện thì bạn phải lắng nghe. Cho nên tôi nói rằng: “Vâng, con sẽ đi xuống Luân Đôn, và nếu Đức Chúa Trời mở đường cho con, thì con sẽ học tiếp, nhưng nếu Đức Chúa Trời không mở đường thì càng hay! Con sẽ đi truyền giảng Tin Lành.”

Tôi không biết có phải ông McBeath đang cầu nguyện cho tôi hay không, bất cứ tôi đi chỗ nào, cánh cửa đều mở rộng cho tôi. Tôi ngẫm nghĩ rằng điều này thì thiệt là lạ thường. Tình hình là như vậy, tôi thì không có thì giờ học tập để dự cuộc thi nhập học đại học, thông thường người ta cần hai hay ba năm học tập chuẩn bị. Mà tôi cũng không thích điều này, nhưng tại vì ông McBeath nói vậy, thì tôi phải ráng học một chút. Nhưng chỉ học tập phân nửa thời gian, một ít chỗ này một ít chỗ kia thì không đi đến đâu cả. Với lại trường Đại Học Luân Đôn cũng không phải dễ vào đâu. Nhưng chắc là đấng người của Đức Chúa Trời này đang cầu nguyện cho tôi, bởi vậy tôi đi vào học viện nào, tôi cũng được nhận vào ngay lập tức. Tôi nghĩ rằng chuyện này thì kỳ cục quá. Có bao nhiêu người đã xin thử mà không bao giờ được nhận vào. Còn tôi thì cứ đi vào thì ông giáo sư nói: “Tôi sẽ thâu nhận anh.”

Tôi đang ngẫm nghĩ nên học ngành nào. Không chừng quí vị cũng từng đối diện với cùng một câu hỏi: “Tôi nên học cái gì?” Tôi nghĩ rằng: “Tôi muốn học một môn có thể giúp cho việc phụng sự Đức Chúa Trời.” Tôi tự nghĩ rằng: “Chúa ơi, Chúa muốn con theo học cái gì? Con đang chờ đợi.” Tôi nghĩ rằng: “Bởi vì ước vọng trong lòng tôi là truyền giảng Tin Lành cho Trung Quốc, tốt nhất là tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn về Trung Quốc. Tôi phải học một môn có liên quan đến Trung Quốc.”

Tôi nên cho quí vị biết rằng môn nào mà liên quan đến văn học, triết học hay lịch sử là tôi sợ nhất, bởi vì trong tất cả các môn học ở trường, tôi chỉ có giỏi về các môn khoa học thôi, còn các môn về văn chương thì dở lắm. Tôi không viết được một bài luận đâu. Tôi hoàn toàn không biết tôi nên làm gì để viết một bài luận. Nhưng các môn về khoa học thì rất đơn giản, 2 cộng 2 là 4, cái đó thì tôi hiểu nổi. Nhưng nói đến viết một bài luận, tôi thật sự không biết làm gì mới phải. Về những môn học văn chương tôi thì dở lắm, miễn là tôi được thi đậu là tôi mừng lắm rồi. Còn về những môn khoa học, thì tôi thông thường làm được khá tốt. Môn mà tôi giỏi nhất thì luôn luôn là toán. Đối với tôi làm những bài toán thì tựa như chơi các trò chơi vậy. Tôi không biết tại sao có người lại sợ môn toán, nhưng tôi thì sợ môn văn chương. Và bây giờ tôi nhận thấy rằng tôi không nên theo học những môn khoa học, tại vì tôi không thấy những môn này có thể giúp ích cho việc phụng sự Chúa. Những môn này thì chắc cũng hữu ích lắm, nhưng tôi đang nói về sự lựa chọn của tôi hồi đó. Đối với người khác, môn khoa học thì cũng hữu ích lắm, chẳng hạn như là đi tìm việc làm ở Trung Quốc hay một nơi nào khác. Nhưng đối với tôi, hồi đó tôi đang ngẫm nghĩ nên học hỏi thêm về văn hóa và ngôn ngữ. Bởi vậy tôi đi vào triết học Đông Phương và những môn văn chương và lịch sử. Bây giờ tôi phải theo học những môn tôi dở nhất.

Lúc đầu tôi muốn đi học tiếng Hy Lạp. Tôi có thể tập trung vào tiếng Hy Lạp để  hiểu rõ hơn về Tân Ước của Kinh Thánh. Tôi đi vào phân khoa Hy Lạp của trường đại học, và nói với người giáo sư rằng: “Tôi muốn theo học tiếng Hy Lạp.” Và tôi được nhận vào liền. Ông giáo sư chỉ hỏi tôi: “Anh có xin vào Đại Học Oxford hay Cambridge không?” Tôi nói: “Tôi không có. Hội Thánh tôi thì ở Luân Đôn và tôi không muốn đi Oxford hay Cambridge.” Ông nói: “Nếu anh đã xin hai chỗ đó rồi thì tôi không thâu nhận anh đâu, nhưng nếu anh chỉ xin vào Đại Học Luân Đôn, thì tôi sẽ thâu nhận anh.” Tôi nghĩ rằng: “Tốt quá, cái này thì nhanh lắm.” Ông giáo sư này thì rất trực tiếp.

Sau đó, tôi mới biết rằng tôi phải học tiếng Hy Lạp cổ điển, chứ không phải tiếng Hy Lap của Tân Ước. Hai thứ ngôn ngữ này không phải hoàn toàn giống y hệt, hai thứ ngôn ngữ này thì có liên quan với nhau nhưng không phải giống y hệt nhau. Tôi nghĩ rằng nếu ngôn ngữ này không phải hữu dụng lắm thì tôi không muốn tốn ba năm trời để theo học tiếng Hy Lạp cổ điển.

Rồi tôi đi vào học viện nghiên cứu Đông Phương của trường Đại Học Luân Đôn. Tôi đi vào và nói rằng: “Tôi muốn xin vào học ở đây.” Ông giáo sư hỏi tôi: “Tại sao anh muốn theo học môn này?” Tôi nói: “Bởi vì tôi muốn đi truyền giàng Tin Lành, tôi muốn trở thành người truyền giáo.” Tôi nói trực tiếp như vậy. Nếu ông đó là một người phản tôn giáo, thì không chừng ông sẽ đuổi tôi ra liền. Học viện đó không phải là nơi huấn luyện người truyền giáo. Phần đông những người theo học ở đó là muốn trở thành nhà ngoại giao. Họ học tập triết học, ngôn ngữ ngoại quốc và văn hóa ngoại quốc, và nhiều người trở thành nhà ngoại giao. Thực ra vị Tổng Đốc trước kia của Hong Kong, David Wilson đã theo học tại học viện này, ông là một nghiên cứu sinh ở đó.

Bắt Đầu Hướng Dẫn Một Hội Thánh Người Hoa Ở Luân Đôn

Tôi đi xuống Luân Đôn, rồi một anh bạn hỏi tôi: “Bây giờ anh đang dự Hội Thánh nào?”

“Tôi mới đến Luân Đôn. Tôi chưa quyết định đi Hội Thánh nào.”

Anh nói: “Đến Hội Thánh của tôi đi.”

Tôi nói: “Anh đang dự Hội Thánh nào?”

Anh nói: “Chúng tôi vừa mới thành lập một Hội Thánh người Hoa.”

Và tôi nghĩ rằng: “Không, tôi nên đi tìm một Hội Thánh khác thì phải.”

Anh nói: “Chúng tôi không có đủ người, anh hãy dự Hội Thánh người Hoa này đi!”

Tôi nói: “Tôi không thấy thích thú.” Nhưng dù sao đi nữa, anh này theo đúng lời dạy dỗ trong cái ví dụ về sự bền trí, cứ gõ cửa hoài cho đến cánh cửa được mở. Anh này không có bỏ cuộc. Anh cứ hỏi tôi từ tuần này qua tuần khác và nói rằng: “Tôi hiểu rằng anh không muốn dự Hội Thánh đó, không chừng anh đến buổi học tập Kinh Thánh đi?”

Tôi nói: “Có gì khác nhau vậy?”

Anh nói: “Tôi muốn anh đi hướng dẫn buổi học tập Kinh Thánh.”

Tôi nói: “Tôi không quen biết những người đó.”

Anh nói: “Không sao đâu, anh cứ đến hướng dẫn buổi học tập Kinh Thánh đi. Hiện nay không có ai hướng dẫn cả. Chẳng lẽ anh không muốn giúp đỡ sao?”

Và sau cùng thì tôi bắt đầu đi dự Hội Thánh đó qua buổi học tập Kinh Thánh.

Khi anh này nói đến một Hội Thánh người Hoa, tôi tưởng là lớn lắm. Thực ra chỉ có khoảng 5 người thôi, mà họ gọi đó là một Hội Thánh, họ thì nên gọi là một nhóm học tập Kinh Thánh. Họ tụ họp tại một phòng họp mặt nhỏ của một nhà trọ, không chừng vì lý do này mà họ đó gọi là một Hội Thánh. 5 người ở trong một phòng họp mặt, và họ gọi đó là một Hội Thánh.

Sau đó tôi mới biết rằng tôi là người duy nhất hướng dẫn tạm thời Hội Thánh này. Anh bạn Tín Đồ mời tôi đến dự Hội Thánh này thì không biết đi đâu rồi. Bất thình lình anh này biến mất đi chỗ khác làm việc khác luôn. Tôi thì ở lại đó để trông nom cái Hội Thánh 5 người này. Tình trạng đó thật là buồn cười, bởi vì tôi phải làm hết thảy mọi việc, từ tuyên bố bản tụng ca đến đờn cái đàn ống. Tôi chưa hề đờn đàn ống bao giờ trong đời tôi. Tôi biết đờn một ít piano, chỉ là đủ để đờn những bản tụng ca. Quí vị tưởng tượng coi 5 người không hiểu gì về âm nhạc mà ca một bản tụng ca 5 đoạn thơ, tình hình đó là ra sao? Cho nên tôi nghĩ rằng: “Tôi nên đờn cái đàn ống này thì hơn,” nhưng tôi không biết phải bấm nút nào mới phải.

Đức Chúa Trời chắc cũng có tính hài hước lắm. Tôi phải đứng ở phía trước để tuyên bố bản tụng ca, rồi tôi phải chạy đến phía sau để đờn cái đàn ống. Khi tôi đờn cái đàn ống thì không ai đứng ở phía trước cả. Khi họ hát xong một bản tụng ca rồi, thì tôi lại chạy đến phía trước nữa.

Dần dần qua việc làm của Đức Chúa Trời, Ngài dẫn đưa càng ngày càng nhiều người đến Hội Thánh này. Trong vòng một vài tháng, phòng họp mặt nhỏ này thì đầy dẫy người, vẫn không phải đông lắm, nhưng có khoảng chừng 50 người. Khi cái phòng đã đầy rồi, có người thì phải đứng trong hành lang, chỗ mà người ta đi lên đi xuống.

Tôi bắt đầu thấy quyền năng trong lời của Đức Chúa Trời đang làm việc. Đức Chúa Trời vui lòng sử dụng một người trẻ tuổi, không có kinh nghiệm, và cũng thật sự không thích hợp để lãnh đạo một Hội Thánh, và Đức Chúa Trời thì rất nhân từ, Ngài ban phước cho việc làm này. Chúng tôi phải dời đi một phòng khác để tụ họp chừng vài tuần lễ sau.

Cho đến nay tôi chưa nói gì về những chuyện kỳ diệu, phải không? Nhưng ngay trong những việc hàng ngày thường xuyên, quí vị vẫn có thể kinh lịch được Đức Chúa Trời. Quí vị có thể kinh lịch quyền năng của Ngài trong việc dẫn đưa người ta đến dự Hội Thánh.

Đức Thánh Linh Giáng Lâm Vào Một Buổi Họp Tại Trại Chislehurst

Một hay hai năm sau, Hội Thánh đó vẫn tiếp tục trưởng thành, nhưng không phải dưới sự hướng dẫn của tôi, mà là dưới sự hướng dẫn của một ông mục sư đến từ Trung Quốc. Thực ra khi tôi mới đến Hội Thánh, mục sư này đang hướng dẫn Hội Thánh, nhưng ông đi qua bên Mỹ để quyên tiền ủng hộ để mua một nhà thờ. Ông đi vắng chừng 3, 4 tháng, khi ông trở về, thì rất ngạc nhiên thấy rằng phòng nhỏ đó đã đầy dẫy người.

Hội Thánh đó tiếp tục trưởng thành, rồi chúng tôi đi cắm trại tại Chislehurst ở xứ Kent, miền đông nam của thành phố Luân Đôn. Trong trại, chúng tôi cũng làm những việc thông thường tương tự như người khác vậy. Có khoảng 60 người đến dự trại, Đức Chúa Trời thì làm việc rất hùng mạnh ở trong trại. Ngày Chúa Nhật Phục Sinh là ngày sau cùng trong trại, Đức Chúa Trời làm việc trong lòng của mỗi một người. Trong những ngày ở trong trại, mọi người đều thấy Đức Chúa Trời đang làm việc trong lòng của nhiều người. Vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh thì có một trò chơi đi tìm cái trứng phục sinh. Muốn tìm được cái trứng phục sinh này, thì anh phải có đầu mối từ điểm này qua điểm kia. Nếu bạn không có đầu mối chính xác, thì bạn sẽ đi đến chỗ sai lầm. Từ đầu mối này đến đầu mối kia, bạn phải ráng suy nghĩ phân tích để tìm cái trứng đó.

Nếu quí vị hiểu rõ tôi, thì quí vị biết rằng tôi thì ham chơi lắm. Cho nên tôi gia nhập vào trò chơi cùng mọi người đi tìm trứng. Rốt cuộc, cái gì xảy ra đây? Tôi thắng, tôi được cái trứng. Thắng được cái trứng thì chắc cũng hay lắm chứ, nhưng tôi phải đem cái trứng lớn màu vàng kim này mà đi vào buổi họp của ngày Chúa Nhật Phục Sinh, tôi cảm thấy tôi hình như là một vai hề. Tôi tự nhủ rằng: “Chúa ơi, tại sao lại cho con thắng cái trứng này?” Cái trứng này coi kỳ quá đi. Tôi muốn tìm cách để giấu cái trứng này dưới ghế ngồi. Chẳng bao lâu thì buổi họp bắt đầu.

Tôi nói điểm này là tại vì nhiều khi Tín Đồ Cơ Đốc hay dùng âm nhạc hoặc phương pháp khác để tạo nên một không khí thuộc linh để gây xúc động tình cảm của người ta hầu cho đạt được kết quả họ muốn. Nhưng hôm đó thì không có những việc này cả. Chúng tôi không có làm gì để gây xúc động tình cảm của người ta. Rồi buổi họp bắt đầu. Người chủ tọa buổi họp đứng dậy và bắt đầu mở miệng nói vài lời. Lúc đó, mọi người vừa mới ngồi xuống, vẫn còn cười vui và nói đùa. Có một khoảng thời gian yên lặng, anh em Tín Đồ này nói: “Để chúng ta bắt đầu bằng lời cầu nguyện,” rồi bất thình lình Thánh Linh của Chúa Trời ngự xuống. Đó là lý do tại sao tôi kể cho quí vị nghe cái trò chơi về trứng Phục Sinh. Không có sửa soạn tâm lý gì hết. Đó là hoàn toàn ngạc nhiên. Một lúc thì người ta đang vui cười, nói đùa, rồi bỗng nhiên là hoàn toàn yên lặng. Sau đó mọi người đều cảm thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trừ phi quí vị từng trải một kinh lịch như vậy, bằng không thì khó mà giải thích cho quí vị biết tình hình đó là như thế nào.

Tôi có thể hiểu được vào ngày lễ Ngũ Tuần khi Thánh Linh của Chúa Trời giáng lâm thì tình hình đó là như thế nào. Cũng như tôi đã nói, khi Thánh Linh giáng lâm, thì Ngài sẽ chủ tọa cả buổi họp. Người chủ tọa thì cứ ngồi trên ghế, và chúng tôi không nghe anh này nói một câu nào nữa suốt cả buổi họp, có nghĩa là anh này không hề chủ tọa buổi họp. Đức Chúa Trời điều khiển mọi việc.

Tôi để ý có tiếng khóc thổn thức ở một góc nhà kia. Rồi càng ngày càng nhiều tiếng khóc thổn thức vang lên. Bất thình lình có tiếng khóc lớn ngang qua cái phòng tụ họp 60 người. Rồi sau đó, người ta bắt đầu xưng tội, rồi ăn năn hối cải. Sự thánh sạch đáng sợ của Đức Chúa Trời không phải là một điều mà bạn có thể định nghĩa được rồi viết trên một tờ giấy. Thánh sạch là gì? Bạn mở cuốn tự điển ra coi, thì trong đó nói rằng thánh sạch là cái này cái nọ. Sau cùng, bạn vẫn chưa biết thánh sạch là cái gì. Nhưng nếu bạn từng gặp gỡ với Đức Chúa Trời, bạn không cần ai giải thích cho bạn biết thánh sạch là gì nữa, bởi vì bạn từng kinh lịch rồi.

Bất thình lình có sự hiện diện đáng kính sợ của Đức Chúa Trời, Ngài đang ở trong phòng, và Ngài đang tuyên bố tội lỗi của người ta. Ông đứng kế bên tôi thì rất to và cao, ông này không muốn cho ai thấy ông khóc đâu. Nhưng khi tôi xoay lại thì thấy ông này đang khóc lóc không kiềm chế nổi, nước mắt đang chảy trên mặt của ông. Cả phòng đều là như vậy. Mọi người đều cảm thấy quyền năng của Đức Chúa Trời. Rồi người ta đứng dậy xưng tội của mình và cầu xin Chúa Trời tha tội. Thật là kỳ diệu. Đức Thánh Linh của Chúa Trời đang làm việc trong lòng của từng người một. Thật là một kinh lịch khó quên.

Chúng tôi không để ý đến thời gian trôi qua. Theo dự định thì buổi họp là một tiếng rưởi đồng hồ, nhưng đã kéo dài từ giờ này qua giờ khác. Mọi người đều bỏ quên cả chương trình và không ai đi ăn trưa hết. Những nhân viên trong trại đang chờ đợi để dọn cơm trưa cho chúng tôi, nhưng không ai xuất hiện. Mọi người đều ngồi trong phòng và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang làm việc. Nếu bạn muốn nói về những kinh lịch kỳ diệu, thì sự kiện đó đã bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời vậy. Để tôi nói cho quí vị nghe, thật là kỳ diệu. Đó là kinh lịch trực tiếp của lễ Ngũ Tuần. Chúng tôi kinh lịch sự hiện diện chế ngự của Đức Chúa Trời. Tôi cứ dùng mãi từ ngữ “đáng kính sợ”. Tôi không biết dùng từ ngữ nào khác để mô tả kinh lịch này. Mọi người đều khóc lên trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

Sau vài tiếng đồng hồ, chúng tôi mới kết thúc buổi họp. Tôi cũng không biết buổi họp đó kết thúc ra sao nữa. Khi đi ra khỏi phòng đó, chúng tôi đều cảm thấy như trong tình trạng mê mẫn, kinh ngạc. Tôi nhấn mạnh về khoảng thời gian đó, bởi vì đó không phải là chỉ là 2, 3 giây đồng hồ, chợt hiện ra rồi biến mất, mà là từ giờ này sang giờ khác ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đó không phải là một kinh lịch thoáng qua, tưởng tượng, rồi mờ đi. Đó là một kinh lịch kéo dài mãi, hầu cho bạn có thể thưởng thức sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ngài không phải chỉ là thoáng qua rồi biến mất liền, bằng không thì không chừng bạn sẽ nghĩ rằng: “Có phải là tôi vừa thấy ma hay sao?” Không, Chúa Trời thì ở đó. Sau cuộc kinh lịch này, mọi người đều khác hẳn rồi. Kinh lịch đó đã in dấu vào trong tâm linh tôi một cách sâu sắc hơn tôi tưởng tượng được. Quyền năng của buổi họp với Đức Chúa Trời thật là kỳ diệu.

Tôi nghĩ rằng những người trong buổi họp đó thì không ai biết rằng nên dùng cách nào để mô tả cuộc kinh lịch đó. Nhưng tôi từng kinh lịch Đức Chúa Trời vài lần  qua nhiều cách khác nhau, tôi biết rằng mỗi khi Đức Chúa Trời làm một việc như vậy, thì kẻ thù cũng sẽ làm việc nữa. Kẻ thù thì đến như nạn hồng thủy. Số người trong Hội Thánh tăng vụt lên. Khi người ta nghe rằng 60 người bọn chúng tôi từng gặp gỡ với Đức Chúa Trời ở Chislehurst, tin này truyền đi rất nhanh. Mọi người đều muốn đến Hội Thánh chúng tôi để coi coi việc gì xảy ra ở đây. Bạn bắt lửa bằng cách nào? Thực ra không có một phương pháp để bắt lửa. Không cách nào nói cho họ biết được. Bằng cách nào mà chúng tôi nói cho họ biết được? Sự kiện này thì không phải là cứ theo đúng một phương pháp từng bước một, bước 1, bước 2, bước 3 như vậy. Chúng tôi không có chuẩn bị gì hết. Bạn không cách nào tổ chức một cuộc kinh lịch như vậy, hay là sửa soạn cho cuộc kinh lịch này. Đức Chúa Trời sẽ đến lúc nào thì hoàn toàn do Ngài quyết định. Chứ không phải là tại vì chúng tôi tốt hơn người ta, hoặc là thánh sạch hơn người ta, hoặc là chúng tôi ca hát hay hơn người ta, hoặc là chúng tôi vỗ tay hay hơn, hoặc chúng tôi nhảy múa hay hơn người ta. Chúng tôi không có giỏi về những điều này hết. Chúng tôi nghĩ không ra một lý do nào hết. Đó là Đức Chúa Trời lựa chọn đến với chúng tôi.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (4)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Đức Chúa Trời Cung Cấp Mọi Điều Cần Thiết Cho Tôi Trong Học Viện Kinh Thánh

Chúa Trời tiếp tục làm nhiều phép lạ trong đời tôi. Khi tôi đến nước Anh, tôi không quen biết ai cả. Bởi vì tôi không được phép kiếm việc làm ở nước Anh, tôi phải nhờ cậy vào Chúa Trời cung cấp mọi điều cần thiết cho tôi trong kỳ học. Đôi khi Chúa Trời thử thách đức tin của tôi. Trước kỳ học cuối cùng ở học viện Kinh Thánh bắt đầu, tôi không có tiền trả học phí. Tôi đếm số tiền của tôi trong túi, tôi thấy rằng tôi sẽ mắc nợ người ta nếu tôi ở lại thêm hai, ba ngày nữa. Tôi phải làm gì đây? Đoạn Kinh Thánh Rô-ma 13:8 dạy rằng chúng ta không nên mắc nợ ai hết, chỉ mắc nợ về sự yêu thương nhau mà thôi. Tôi không muốn mắc nợ một người nào cả, ngay cả Học Viện Kinh Thánh.

Tôi nói cho người giữ sổ đăng ký rằng tôi sẽ rời học viện Kinh Thánh, bởi vì tôi không có tiền trả học phí. Ông này đặt tay trên vai tôi nói rằng: “Anh Hòa, chúng tôi không nghĩ rằng anh mắc nợ đâu, ít nhất chờ đến ngày sau cùng của kỳ học.” Rồi tôi nói rằng: “Ông Williamson, nếu Chúa Trời không cung cấp tiền học phí cho tôi vào đầu kỳ học, làm sao mà tôi biết được Ngài sẽ cung cấp cho tôi vào cuối kỳ học. Lúc đó tôi sẽ mắc nợ, và như vậy là không hợp với nguyên tắc của Kinh Thánh.” Ông này nài xin tôi ở lại, nhưng tôi cho ông biết rằng tôi phải đi. Bằng cấp thì không quan trọng gì hết đối với tôi.

Tôi trở về phòng tôi ở trên lầu. Tôi cảm ơn Chúa Trời đã cho tôi một cơ hội để theo học tại học viện Kinh Thánh. Nếu Chúa Trời ý định cho tôi rời khỏi học viện, thì tôi vui lòng tuân theo ý định của Ngài. Tôi lấy cuốn tập ra định viết vài bức thư tạm biệt cho bạn bè, thì tôi thấy có cái gì ở trong cuốn tập của tôi đây? Một bộc tiền pound Anh ở đó. Tôi tưởng rằng tôi đang ở trong giấc mơ, nhưng đó quả thật là một món tiền vừa đủ cho các chi tiêu trong kỳ học cuối cùng của tôi. Tôi chưa hề kinh lịch một sự kiện như vậy.

Tôi đi xuống để gặp ông Williamson, ông này chắc đang chờ đợi tôi đến bắt tay tạm biệt ông. Quí vị có thể tưởng tượng được ông này ngạc nhiên đến mực nào khi tôi trao cho ông một bộc tiền Anh. Sau khi tôi giải thích mọi việc cho ông nghe, ông nói với tôi rằng: “Anh Hòa, trong học viện Kinh Thánh này chúng ta đã thấy nhiều sự kiện kỳ diệu xảy ta trong cuộc đời của anh.”

Đức Chúa Trời Dẫn Dắt Bảo Hộ Con Cái Của Ngài Một Cách Kỳ Diệu

Tôi phải nhảy qua nhiều năm và nhiều sự kiện mà Chúa Trời đã làm từ thời kỳ học sinh của tôi đến bây giờ. Tôi muốn kể thêm một vài việc xảy ra chẳng bao lâu về trước. Việc này bày tỏ cho ta thấy Đức Chúa Trời dẫn dắt con cái của Ngài ra sao khi họ đi cùng với Ngài.

Vào năm 1985, một hôm tôi đang lái xe, tôi ngừng lại ở một nơi gần nhà tôi. Ở Canada, khi một chiếc xe đến một chỗ có dấu hiệu ngừng xe thì phải ngừng lại hoàn toàn. Rồi xe nào ngừng trước nhất sẽ có quyền đi trước. Sau khi tôi ngừng lại rồi, tôi đang sửa soạn gia tốc để đi tiếp thì bỗng có tiếng nói của Chúa Trời rằng: “Đừng đi!” Cho nên tôi ngừng lại không đi. Bất thình lình có một chiếc xe buýt chạy vượt qua chỗ giao nhau. Người lái xe chẳng những không ngừng tại dấu hiệu ngừng xe, và ông cũng không ngừng tại trạm xe buýt ở phía trước của dấu hiệu ngừng xe nữa. Nếu tôi đã gia tốc, thì chiếc xe buýt sẽ đụng ngay vào chiếc xe của tôi. Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Trời bảo hộ sinh mạng tôi.

Bây giờ tôi kể sự kiện thứ hai. Trong mấy tháng vừa qua, có vài anh chị em trong Hội Thánh chúng tôi có người cha hay người mẹ hoặc là cả cha mẹ chết đi hay nằm bịnh trong bịnh viện. Có một người chị em đang phụng sự Chúa ở Hội Thánh Toronto của chúng tôi, cha của chị này có bịnh đái đường, rồi gây lên nhiều thứ bịnh khác ở thận. Một hôm chị này điện thoại tôi rất khẩn cấp: “Tôi vừa nhận được một điện thoại của gia đình tôi ở Mã Lai cho tôi hay rằng bịnh của ba tôi trở nên nặng lắm. Nhưng chính ông bác sĩ cũng không biết tình trạng của ba có nguy hại đến tính mạng hay không. Tôi có nên đi về không?” Tôi bảo chị này cầu xin Chúa Trời. Sau khi tôi chờ đợi trước mặt Chúa Trời, tôi nhận được chỉ thị của Ngài rằng ba của chị này sẽ chết trong một khoảng thời gian ngắn. Tôi nói với chị này rằng: “Đi về Mã Lai ngay lập tức để chị có thể truyền giảng Tin Lành cho ba của chị trước khi ba qua đời.” Chị này bèn đi máy bay về Mã Lai ngay. Khi chị này đến nhà, thì ba của chị hình như ở một tình trạng khá tốt. Chị này có cơ hội truyền giảng Tin Lành cho ba được 2,3 ngày. Chị này là một cô y-tá, chị cũng hiểu biết về các vấn đề y khoa. Thấy rằng tình trạng của ba cũng khá tốt, chị này đi thăm vài anh chị em ở Hội Thánh Mã lai, họ mới từ Hội Thánh Montréal trở về. Trong khi chị này đi vắng, thì ba của chị chết đi. Ba của chị chết bất thình lình, chị này cũng ngạc nhiên lắm. Nhưng Chúa Trời đã cho tôi biết trước rằng ba của chị này chẳng sống được bao lâu nữa, bởi vậy tôi bảo chị này đi về liền.

Một sự kiện tương tự như vậy xảy ra chẳng bao lâu sau sự kiện vừa rồi. Một anh Tín Đồ ở Canada nhận được một điện thoại khẩn cấp từ gia đình ở Hong Kong nói rằng ba của anh bị đau tim sắp chết. Anh này điện thoại tôi liền hỏi tôi rằng anh có nên đi về không. Chúa trời cho tôi một tin tức ngay lập tức: ba của anh này sẽ không chết. Tôi nói cho anh này biết khải thị của Chúa, nhưng anh này giải thích rằng vài bác sĩ đều nói rằng tình trạng của ba rất nguy hiểm. Nhưng tôi nói với anh rằng: “Chúa Trời nói rằng ba của anh sẽ không chết!” Đúng như lời của Chúa Trời đã nói, ba của anh này vẫn còn sống cho đến hôm nay.

Khi quí vị đi cùng với Chúa Trời, Chúa sẽ cho quí vị biết nhiều sự bí mật (xin tham khảo đoạn Kinh Thánh ở A-mốt 3:7; Đa-ni-ên 2:19, 22, 28, 30.) Trong hai sự kiện này, lời khải thị của Chúa Trời mà tôi nhận được là công khai cho mọi người khám xét. Kết quả sẽ chứng tỏ liền tôi có phải là một tiên tri giả hay không. Không phải như thầy bối, tôi không có nói những chuyện dự đoán mơ hồ không rõ. Ngược lại, những lời mà Chúa Trời đã khải thị cho tôi và qua tôi thì rất rõ ràng không mơ hồ gì cả, và mọi việc đều có thể chứng minh khám xét.

Sự vĩ đại của Chúa Trời thật là kỳ diệu. Tôi chỉ kể một phần nho nhỏ của những việc Ngài đã làm; những thí dụ này thì khó mà giải thích bằng việc làm của người ta được.

Bây giờ quí vị nhận thấy tôi trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không thể tách rời với việc phụng sự Đức Chúa Trời. Tôi không thể lựa chọn việc gì khác, tôi phải phụng sự Chúa Trời bởi vì tôi đã hẹn với Ngài rồi. Thật ra cũng có vài lần tôi muốn trốn đi, nhưng Chúa Trời thì luôn luôn nhắc lại cho tôi lời tôi đã hẹn với Ngài. Trong bao nhiêu năm này Chúa Trời đã gìn giữ tôi trên con đường phải, hầu cho tôi có thể phụng sự Ngài qua ân điển của Ngài.

Có một số người hỏi tôi rằng: “Tại sao đối với mục sư thì Chúa Trời lại chân thật quá? Tại sao chúng tôi không kinh lịch được những việc như vậy?” Bí mật thì rất đơn giản: Nếu quí vị giao phó cuộc đời của quí vị hoàn toàn vào trong tay của Chúa Trời, và quí vị vui lòng vác thập tự giá của mình mà đi theo Chúa Giê-su, thì quí vị sẽ kinh lịch được những việc kỳ diệu từ Chúa Trời cũng như tôi từng kinh lịch vậy.

Nhận Biết Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Giê-su Christ

Trong chương này tôi muốn tuyên bố sự vinh diệu của Đức Chúa Trời, lòng thương xót của Ngài, lòng nhân từ của Ngài, trí tuệ của Ngài, cái Danh của Ngài. Tôi muốn tuyên bố Đức Chúa Trời là ai, tôi muốn tuyên bố tính tình của Ngài, và Đức Chúa Trời là một Đấng như thế nào.

Đối với tôi, trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không phải là gia nhập một tôn giáo. Tôi chưa hề thích thú tôn giáo, và cho đến hôm nay tôi vẫn không thích thú tôn giáo. Trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc là nhận biết Đức Chúa Trời có nghĩa là nhận biết Chúa Trời là Đấng hằng sống. Chính là trong quá trình nhận biết Chúa Trời mà chúng ta hiểu rằng trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không có liên quan gì với học thức của quí vị là cao hay thấp. Tôi không chống đối học thức, chính tôi cũng tốn nhiều thì giờ trong việc học tập. Nhưng quí vị không phải là Tín Đồ Cơ Đốc chỉ vì quí vị đã hiểu biết học thuyết, lịch sử và tổ chức của Đạo Cơ Đốc. Tất cả những điều này không làm cho quí vị trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc đâu. Điều căn bản của một Tín Đồ Cơ Đốc là nhận biết Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Sứ đồ Phao-lô nói rằng người chỉ muốn một điều là nhận biết Đấng Christ (Phi-líp 3:8, 10). Trong 1 Giăng 5:20 thì có nói rằng Đấng Christ chính là sự sống đời đời. Cho nên mọi việc đều tùy thuộc vào nhận biết Chúa Giê-su Christ.

Điều mà tôi muốn tuyên bố là Chúa Trời đã giảng dạy cho tôi hiểu biết những việc của Ngài. Tôi cũng muốn nói rõ rằng kinh lịch của mỗi một người ắt phải khác nhau. Cho nên bạn đã kinh lịch được điều gì thì bạn không cần phải so với kinh lịch của tôi, bởi vì Chúa Trời đã bày tỏ chính mình cho mỗi một người một cách khác biệt. Tôi muốn nhấn mạnh về điểm này bởi vì khi bạn thấy tôi kinh lịch một việc kỳ diệu, và bạn nói: “Tôi chưa hề kinh lịch một sự kỳ diệu như vậy.” Không sao đâu, kinh lịch của bạn tuy không kỳ diệu như vậy, nhưng vẫn rất chân thật.

Chúng tôi không phải tìm kiếm một kinh lịch kỳ diệu. Chẳng hạn như khi Chúa Giê-su hiện ra trước sứ đồ Phao-lô, lúc đó người chưa trở thành một sứ đồ, và người vẫn còn gọi là Sau-lơ. Nhưng trên đường Đa-Mách, có ánh sáng lớn từ trời soi-sáng chung quanh người làm cho người từ trên lưng ngựa té xuống đất và bị mù vài ngày. Tình hình này thì rất kỳ diệu, và bạn nói: “Tôi chưa hề có kinh lịch như vậy.” Chẳng sao đâu, bạn kinh lịch Chúa Trời vẫn rất chân thật cho dù bạn không có từ trên lưng ngựa té xuống, cho dù bạn không có bị mù ba ngày.

Kinh Lịch Đặc Biệt Kèm Theo Đau Khổ Đặc Biệt

Một điều tôi muốn nói ở đây: Nếu kinh lịch nào là đặc biệt lắm, thì bạn phải sẵn sàng, Đức Chúa Trời sẽ kêu gọi bạn làm những việc rất khó khăn. Thí dụ: Phao-lô có kinh lịch rất đặc biệt này, và kết quả là Chúa Trời giao những việc rất khó khăn cho người làm. Như vậy có nghĩa là nếu bạn muốn được những kinh lịch đặc biệt, thì bạn phải sẵn sàng chịu những đau khổ đặc biệt, cũng như sứ đồ Phao-lô đã được kêu gọi phải chịu đựng đau khổ vậy (Công Vụ Các Sứ Đồ 9:16.) Nếu bạn không muốn chịu đựng những đau khổ đặc biệt này, thì bạn đừng nghĩ về những kinh lịch đặc biệt, bạn chỉ lắng tai nghe người ta kể lại những kinh lịch của họ, và để họ chịu đựng những đau khổ đặc biệt đó.

Khi tôi chia sẻ những việc này, tôi sẽ không nói về những đau khổ mà tôi từng trải vì lòng thương xót của Chúa Trời. Mỗi lần khi những đả kích và đau khổ đến, thì tôi nhớ lại đó chính là điều mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi tôi làm, và phần lớn của sự kêu gọi này thì luôn luôn chứng tỏ cho tôi thấy mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và tôi một cách chân thật qua những kinh lịch này.

Thi Thiên 9:11. Hãy báo cáo giữa các dân công việc tối cao của Ngài.

Thi Thiên 66:16. Hỡi hết thảy người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy đến nghe, thì tôi sẽ thuật lại điều mà Ngài đã làm cho linh hồn tôi.

Thi Thiên 73:28. Đặng thuật lại hết thảy các công việc của Ngài.

Thi Thiên 145:6. Còn tôi sẽ rao truyền sự cao-cả của Chúa.

Trong Thi Thiên thì cứ lập đi lập lại nhiều lần như vậy: thuật lại công việc của Ngài, tuyên bố sự vinh diệu của Ngài cho các nước, cho dân chúng. Đó chính là điều mà tôi đang làm.

Có nhiều người nói với tôi rằng: “Chúa Trời đã cho mục sư kinh lịch được nhiều sự kỳ diệu như vậy, mà Chúa lại không cho tôi kinh lịch gì cả, thiệt là không công bằng.” Tôi mong rằng quí vị hãy nhớ kỹ những điều tôi đã nói. Quí vị cũng có thể kinh lịch được các sự việc như vậy, không chừng còn kỳ diệu hơn nữa, miễn là quí vị sẵn sàng chịu khổ vì cớ của Chúa Trời. Bằng không thì đừng nghĩ về kinh lịch gì cả. Như vậy thì có nghĩa là mỗi một kinh lịch do Chúa Trời ban cho đều kèm theo một giá riêng. Nếu quí vị không sẵn sàng trả giá đó, thì đừng có tìm kiếm là hơn.

Còn tôi thì tôi yêu thích cái đặc quyền ban cho tôi để tôi nhận biết Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su Christ, và những đau khổ đi kèm với sự nhận biết này. Tôi cũng nói như sứ đồ Phao-lô đã nói trong Phi-líp 3:10: “cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép của sự sống lại của Ngài, và sự tương giao khổ nạn của Ngài đặng làm cho tôi trở nên giống như Ngài trong sự chết của Ngài.” Đó là phương cách mà sứ đồ Phao-lô dùng để nhận biết Chúa Giê-su. Quí vị muốn nhận biết Chúa Giê-su đến mực nào đây?

Qua Những Khó Khăn Khổ Nạn Mà Năng Lực Của Chúa Trời Được Bày Tỏ

Bây giờ để tôi kể tiếp phần thứ tư của câu chuyện của đời tôi. Tôi muốn nói rõ rằng tôi chỉ nhấn mạnh về vài sự kiện thôi, bởi vì trong một tiếng đồng hồ thì tôi không cách nào kể hết tất cả những việc xảy ra trong cả một thời kỳ của cuộc đời tôi: Thời kỳ ở Luân Đôn. Những phần trước thì nói về cuộc đời tôi và gia đình tôi ở Trung Quốc, rồi đến thời kỳ ở Ê-cốt. Trong chương này tôi sẽ tập trung về những năm tôi ở Luân Đôn. Trong những năm đó, tôi kinh lịch bao nhiêu việc Đức Chúa Trời đã làm trong cuộc đời của tôi, tôi chỉ có thể kể ra vài điểm quan trọng thôi.

Chính là qua những khó khăn và nhất là những khổ nạn mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ năng lực của Ngài. Nếu không có khó khăn nào cả, thì chúng ta không có cơ hội để kinh lịch những việc Chúa Trời làm. Nếu quí vị không có cần thiết về tiền bạc hay vật chất, và quí vị là tôi tớ của Chúa hay là con cái của Chúa, mà quí vị không có gặp khó khăn gì về tài chánh, thì làm sao mà quí vị có cơ hội kinh lịch được sự cung cấp của Chúa Trời? Nếu quí vị không cần gì cả, cho nên cũng không có cơ hội để Chúa Trời giúp đỡ quí vị. Tôi thương xót cho những kẻ không có điều gì cần thiết bởi vì họ cũng không có cơ hội để kinh lịch Chúa Trời. Xin quí vị nhớ kỹ điểm này.

Nếu quí vị không có bịnh tật gì cả, thì quí vị cũng không kinh lịch được Đức Chúa Trời. Thân thể tôi phải nhờ cậy vào Chúa Trời hàng ngày. Bây giờ thân thể tôi đã yếu đến mực nếu không có sự nâng đỡ của Chúa Trời thì tôi không sống qua một ngày nào được. Trước kia tôi cũng mạnh khỏe như ai vậy, hôm nay tôi đau ở lưng, cho dù chỉ đứng dậy chừng 10 hay 15 phút cũng làm cho tôi đau nhức vô cùng. Như vậy thì tôi phải làm gì? Tôi chỉ có tập nhờ cậy vào Chúa Trời. Sự cần thiết trở thành cơ hội cho Chúa Trời.

Andrew McBeach – Hiệu Trưởng Của Học Việc Kinh Thánh Ở Ê-cốt

Ở Ê-cốt, tôi học tại học viện Kinh Thánh được 2 năm trời, đó là một học viện Kinh Thánh lâu nhất và nổi tiếng nhất ở nước Anh. Học viện đó là do D.L. Moody thiết lập. Nếu quí vị quen biết truyền thống của Đạo Cơ Đốc ở Tây Phương, thì quí vị sẽ biết người truyền đạo vĩ đại D.L. Moody. Học viện Kinh Thánh Moody ở Chicago cũng là do Moody thiết lập. Sanky là bộ trưởng âm nhạc phụ trách về âm nhạc. Bất cứ Moody đi đâu, Sanky cũng đi theo và chăm lo tất cả những chuyện về âm nhạc. Có nhiều bản thánh ca tiếng Anh nổi tiếng cũng là tác phẩm của Sanky. Hai vị đầy tớ này của Chúa Trời tổ chức một buổi họp ở nước Anh. Nhiều người tin vào Chúa Giê-su trong khoảng thời gian đó, và họ muốn được huấn luyện để phụng sự Chúa Trời. Bởi vậy mà học viện Kinh Thánh được thành lập.

Hiệu trưởng của học viện đó là Andrew McBeath, một nhà học giả, nhưng quan trọng hơn nữa là một tôi tớ trung tín của Chúa Trời. Khi tôi nhìn lại cuộc đời của tôi, tôi thử đếm lại coi tôi từng gặp được bao nhiêu người tôi tớ chân thật của Chúa Trời, một người mà tôi nghĩ rằng xứng đáng được gọi là “người của Đức Chúa Trời”. “Người của Đức Chúa Trời” là một danh hiệu mà chúng ta không nên lạm dụng. Rất ít người xứng đáng được gọi bằng danh hiệu này. Tôi nghĩ rằng không có một danh hiệu nào khác trong Kinh Thánh cao hơn danh hiệu “người của Đức Chúa Trời”. Những người như vậy thì rất hiếm có. Trong suốt cuộc đời của tôi, tôi có thể đếm trên đầu ngón tay tôi từng gặp bao nhiêu người của Đức Chúa Trời.

Tôi sẽ kể ông Andrew McBeath là một trong những người đó. Khi quí vị gặp mặt ông này và có dịp nhận biết ông sâu hơn, thì quí vị biết rằng quí vị đã gặp phải một “người của Đức Chúa Trời”. Đầu tiên sự khiêm nhường của ông này làm cho tôi ngạc nhiên lắm. Tôi đến học viện Kinh Thánh trễ một tháng bởi vì tôi không xin được thị thực nhập cảnh. Tôi gặp phải nhiều sự khó khăn liên quan đến thị thực, sau cùng tôi đến Glasgow sau khi học viện đã khai trường được một tháng rồi. Và chính ông McBeath đến đón tiếp tôi. Tại sao ông hiệu trưởng lại phải đón tiếp một học sinh mới. Ông có thể sai một người nào đó đến đón tiếp tôi, bởi vì có nhiều người học sinh ở đó, nhưng ông đích thân đến đón tiếp tôi. Chẳng những thế, mà ông còn dắt tôi đến chỗ ở của ông nữa. Chỗ ở của ông là ở trong cùng một tầng nhà của học viện. Ông dắt tôi đến chỗ ở của ông và giới thiệu gia đình của ông cho tôi biết. Tôi chưa từng thấy một hiệu trưởng lại chịu giới thiệu một người học sinh cho gia đình của mình. Ông này giới thiệu tôi cho người vợ của ông, lúc đó bà hiệu trưởng đang nằm bịnh trên giường. Cho nên bà ngồi dậy trên giường để đón tiếp tôi. Đó là lần đầu tiên tôi kinh lịch sự tử tế và sự khiêm nhường của ông hiệu trưởng.

Một hôm khi tôi đang đi trên hành lang, bất thình lình ông McBeath xuất hiện. Ông kêu tôi: “Lại đây!” Tôi ngẫm nghĩ trong lòng : “Cái gì vậy?” Ông này gọi tôi đi qua một bên, rồi trao cho tôi một bao thư. Tôi nhìn vào bao thư và hỏi ông: “Cái gì đây?” Ông nói: “Chúa Trời đã chỉ thị cho tôi và tôi muốn cho con tiền hiến dâng thập phân (một phần mười) của tôi. Đây là tiền hiến dâng thập phân của tôi.” Tôi rất xúc động. Có bao nhiêu học sinh ở học viện Kinh Thánh này, và đây là chính ông hiệu trưởng trao cho tôi tiền hiến dâng thập phân của ông. Tôi xúc động quá nói không ra tiếng. Điều này cho quí vị thấy cái phẩm chất của cuộc đời của ông. Lúc đó tôi chỉ là một học sinh năm thứ nhất.

Cả cuộc đời của ông này đều tỏa ra vinh diệu của Chúa Trời, thật là đẹp đẻ. Điều mà tôi thâu nhận được từ học viện Kinh Thánh thì không những chỉ là học thức, mà quan trọng hơn hết là cái ấn tượng của một người của Đức Chúa Trời là như thế nào. Không có gì quí báu hơn là không những tôi được gặp một người như vậy, mà còn được trở thành bạn bè cuả một người như vậy.

Nhiều năm sau, khi ông này đã khá già rồi, một hôm từ Liverpool tôi điện thoại ông, lúc đó tôi đang phụng sự tại một Hội Thánh ở Liverpool. Tôi hỏi ông về điều thụ chức trong Kinh Thánh, đó là điều tôi đang học tập. Tôi không muốn được thụ chức, tôi không muốn bị xưng là một vị mục sư gì đó. Tôi không muốn mang một danh hiệu gì cả. Thực ra tôi phụng sự Chúa Trời ở Hội Thánh Liverpool không lấy tiền lương gì cả. Trong 5 năm trời tôi không nhận tiền lương gì hết, tôi không muốn nhận. Đó thì làm cho cuộc sống khó khăn lắm, nhưng tôi muốn chứng tỏ cho Hội Thánh thấy rằng tôi truyền giảng Tin Lành không vì tiền bạc. Tôi không muốn nhận lấy một xu về công việc phụng sự của tôi. Thực ra tôi không hề nói về điều này. Mãi cho đến khi tôi rời Liverpool sau 5 năm, lúc đó người ta mới biết rằng suốt cả 5 năm trời, tôi chưa hề nhận tiền lương. Và họ kinh ngạc lắm, họ hỏi rằng: “Tất cả tiền hiến dâng của chúng ta thì đi đâu rồi?” Tôi nói: “Số tiền đó thì dùng trong công việc của Chúa. Số tiền đó không đi về tôi, những vẫn có thể dùng trong các công việc khác.” Và họ nói: “Tại sao ông không hề nói ra?” Tôi nói: “Tôi nói từ ban đầu, nhưng hồi đó các anh còn chưa gia nhập Hội Thánh.” Hội Thánh đã trưởng thành từ một nhóm rất ít người thành ra một Hội Thánh khá đông người, và phần nhiều những người này không biết chút gì về việc này cả.

Nhưng lúc đó tôi muốn tìm hiểu về sự thụ chức, đó là điều tôi đã đọc nhiều lần trong Kinh Thánh. Cho nên một hôm tôi điện thoại ông McBeath và nói rằng: “Mục sư McBeath, thầy nghĩ sao về sự thụ chức?” Ông nói: “Ồ, đó là rất quan trọng.” Tôi nói: “Như vậy, xin thầy giảng dạy cho con hiểu!” Ông nói: “Tôi sẽ đến Liverpool.” Tôi nói: “Có phải lời giải thích đó rất dài mà thầy phải đến tận Liverpool để giảng dạy cho con sao?”

Quí vị để ý coi một người của Đức Chúa Trời. Ông này từ Ê-cốt đến tận Liverpool, khoảng đường thì xa lắm. Tôi tưởng rằng ông sẽ đến Liverpool để giải thích cho tôi về sự thụ chức. Lúc đó thì sắp đến Lễ Phục Sinh rồi. Khi ông đến Liverpool, tôi nói: “Con không hiểu tại sao thầy phải đến tận Liverpool để giải nghĩa cho con về sự thụ chức.” Ông nói: “Tôi đến đây không phải để giải thích cho con về sự này, mà để làm thụ chức cho con.” Tôi không biết nói gì mới phải, tôi chỉ nói: “Cái gì?” Ông nói: “Khi con biết một việc gì là hợp với dạy dỗ của Kinh Thánh thì con nên làm đi, con không nên chỉ nói thôi, con làm liền.”

Điều kinh ngạc nhất là ông đến Liverpool trong tuần lễ Phục Sinh, và ba ngày sau vào ngày Chúa Nhật là Lễ Phục Sinh, thì tôi được thụ chức làm mục sư. Cả Hội Thánh còn chưa biết việc này vào Chúa Nhật tuần trước, bởi vì chính tôi cũng không biết rằng tôi sẽ được thụ chức.

Điểm này cho ta thấy bí mật của một người của Đức Chúa Trời. Ông này không những chỉ nói thôi, mà ông làm liền. Khi một việc là hợp với dạy dỗ của Kinh Thánh, và cho dù quí vị không hiểu rõ về việc đó, quí vị cứ làm trước đã. Ông chưa hề giải thích sự thụ chức cho tôi. Ông chỉ đến làm thụ chức cho tôi. Khi nhìn lại, tôi cảm thấy thật là một đặc ơn cho tôi mà tôi được thụ chức bởi một người đầy tớ rất xuất sắc của Chúa Trời, một người có phẩm chất rất đặc biệt. Tôi nhận thấy rằng đó thì thật là một sự kế nghiệp của các sứ đồ qua những người của Đức Chúa Trời.

Tôi dùng nhiều thì giờ để nói về điểm này bởi vì tôi muốn chứng tỏ rằng ngày nay chỉ còn rất ít người của Đức Chúa Trời. Và Chúa Trời qua trí tuệ và lòng nhân từ của Ngài, Ngài đã cho tôi đặc ơn được gặp một vài người của Đức Chúa Trời.

Ông Andrew McBeath đã viết một vài cuốn sách. Trước khi tôi rời Glasgow, tôi đến văn phòng của ông trong học viện để chào tạm biệt ông. Ông thì lúc nào cũng rất nhân từ và hòa nhã, ông chào tôi tạm biệt và nói rằng: “Sách của tôi vừa mới xuất bản, và tôi muốn cho con một cuốn.” Rồi ông ký tên trên cuốn sách đó và trao cho tôi. Sách đó thì rất quan trọng, đó là cuốn sách nói về Gióp. Hồi đó tôi vẫn còn trẻ, chưa trưởng thành, tôi không nhận thấy sự quan trọng của sách này. Mãi về sau tôi mới hiểu được lý do tại sao ông viết cuốn sách dẫn giải về Gióp, bởi vì ông từng chịu đau khổ lâu dài vì cớ của Chúa. Nhưng ông không hề nói về sự đau khổ của mình. Mãi về sau tôi nghe từ chỗ này chỗ nọ mới hiểu được ông đã chịu khổ bao nhiêu. Nếu quí vị chưa từng trải đau khổ thì không trở thành một người của Đức Chúa Trời được. Sách dẫn giải về Gióp của ông này thì có giá trị lắm, bởi vì phần đông những sách dẫn giải là viết bởi những nhà học giả ngồi trong ghế bành, nhưng ông Andrew McBeath là một nhà học giả và đồng thời cũng một người có nhiều kinh lịch. Ông từng kinh lịch rất nhiều vì cớ của Chúa Trời khi ông đi khắp nhiều nơi trên thế giới để truyền giảng Tin Lành của Ngài.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa ( 3)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Chúa Trời Cung Cấp Thức Ăn Cho Tôi Bằng Nhiều Phép Lạ

Từ đó trở đi, tôi lần lượt kinh lịch nhiều phép lạ. Đức tin của tôi trở nên ngày càng vững mạnh hơn qua những phép lạ kỳ diệu này và những phương cách mà Chúa Trời cung cấp cho tôi thức ăn cần thiết. Có một lần tôi có một hộp củ cải khô, mà hộp củ cải này không bao giờ ăn hết được, cho dù tôi ăn bao nhiêu củ cải đi nữa, nó vẫn không hết được. Mãi đến một hôm tôi thiệt chán ăn củ cải rồi, thì Chúa Trời mới ngưng sự cung cấp. Sau đó tôi đọc trong Kinh Thánh thì thấy có một câu chuyện tương tự như kinh lịch của tôi, đó là trong 1 Các Vua 17:15-16: “Vậy nàng đi và làm theo điều Ê-li nói. Nàng và nhà nàng, cùng với Ê-li ăn trong lâu ngày. Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong bình, y như lời Đức Giê-hô-va đã cậy miệng của Ê-li mà phán ra.”

Đây chỉ là một trong nhiều phép lạ mà tôi đã kinh lịch. Tôi cũng được gặp nhiều vĩ nhân thuộc linh của Chúa Trời, Ngài đã làm nhiều phép lạ qua tay của họ. Nhưng đó lại là một câu chuyện dài, tại vì không đủ thì giờ tôi sẽ nhảy qua những câu chuyện này. Khi người ta hỏi tôi rằng tại sao tôi biết rằng Chúa Trời là thiệt, tôi sẽ nói với họ rằng: “Sau khi đã kinh lịch bao nhiêu phép lạ này, làm sao mà tôi không biết.”

Chúa Trời Khải Thị Cho Biết Ngài Sẽ Dắt Đưa Tôi Ra Khỏi Trung Quốc

Rồi hai năm rưởi trôi qua. Một hôm tôi hỏi Đức Chúa Trời: “Chúa muốn con làm gì đây? Nếu Chúa muốn con ở lại Trung Quốc, con sẽ vui lòng ở lại, nhưng xin nói cho con hay.”

Tôi không làm được việc gì cả. Mỗi một việc làm đều do chính phủ điều khiển, nếu chính phủ không cho phép, anh muốn đi bán báo chí cũng không được. Hai lần tôi xin rời khỏi Trung Quốc nhưng họ không cho tôi đi.

Sức khỏe của tôi càng ngày càng yếu tại vì kém dinh dưỡng. Một hôm tôi cảm thấy có mồ hôi lạnh, tôi biết đó là dấu hiệu của lao phổi, má tôi đã mắc cùng một chứng bịnh này, và một miếng phổi của má phải bị cắt đi. Tôi đi chụp ảnh tia X, thì tôi mới biết một miếng phổi của tôi có một chấm đen. Nhưng tôi không có tiền mua thức ăn, đừng nói chi là mua thuốc men nữa. Rồi tôi đi một nơi khác chụp thêm một tấm ảnh tia X thứ hai, thì kết quả cũng như vậy. Chỗ đó phát cho tôi một tấm card nhỏ với tấm ảnh của hai miếng phổi, trên đó có một dấu chỉ ra chấm đen trên miếng phổi của tôi. Tấm card này cho tôi được tự do đi lại ở Trung Quốc rất ít trở ngại. Tôi còn có thể đi Bắc Kinh thăm chú tôi nữa. Tại sao? Bởi vì mỗi lần tôi bị tra hỏi, thì tôi cho họ coi tấm card này, và họ cho tôi đi liền. Không ai muốn đến gần tôi cả bởi vì họ tưởng rằng tôi có lao phổi. Tấm card nhỏ này không chừng là nguyên nhân sau này họ cho tôi rời khỏi Trung Quốc.

Một hôm tôi đang cầu nguyện trong phòng, thì tôi nghe có một giọng nói: “Ta sẽ đưa con ra khỏi Trung Quốc.” Tiếng nói này rất rõ ràng và đặc biệt, tôi quay đầu lại để coi coi có ai đang nói chuyện với tôi. Tôi thấy không có ai trong phòng. Đây là lần đầu tiên Chúa Trời đã nói chuyện với tôi qua một tiếng nói rõ ràng. Sau này tôi mới thấy có câu Kinh Thánh này trong sách Ê-sai 30:21. “Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ nghe có tiếng đằng sau mình rằng: ‘Nầy là đường đây, hãy noi theo!’ ”

Sau khi tôi nhận được lời khải thị này của Chúa Trời, tôi bắt đầu sắp xếp hành lý. Các anh chị em trong Hội Thánh tưởng rằng tôi đã nhận được giấy xuất cảnh rồi, nhưng tôi nói với họ rằng: “Không! tôi vẫn chưa nhận được gì hết, nhưng Chúa Trời đã cho tôi hay rằng Ngài sẽ đưa tôi ra khỏi Trung Quốc!”

Kinh Thánh ghi lại nhiều câu chuyện Chúa Trời nói chuyện với người dân của Ngài. Thí dụ như trong sách Công vụ các sứ đồ, Chúa Trời đã nói chuyện với Phao lô nhiều lần. Nhưng tại vì tiêu chuẩn của Đạo Cơ Đốc ngày nay đã trở nên rất tầm thường, cho nên những kinh lịch này thì được coi là bất thường hay là lạ thường. Đó thì chính là vấn đề của sự giao phó. Ngày nay đa số người Tín Đồ chỉ là những người dự lễ nhà thờ Chúa Nhật thôi, họ giao phó phân nửa, nhưng rất ít Tín Đồ là hoàn toàn giao phó. Hội Thánh ở các nước Tây Phương thì rất lạnh nhạt, trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không có khó khăn gì cả. Chúa Giê-su phán rằng: “Vác thập tự giá của các ngươi mà theo ta”, câu nói này đã thành ra vô ý nghĩa đối với những Tín Đồ ở Tây Phương. Ơn cứu chuộc rẻ tiền và pha loãng như vậy sẽ không giúp bạn nhận biết Đức Chúa Trời một cách trực tiếp hoặc là biết được Đức Chúa Trời có thiệt hay không. Nhưng nếu bạn giao phó hoàn toàn cho Chúa Trời, thì bạn sẽ kinh lịch được quyền năng kỳ diệu của Ngài, nhất là khi bạn trong tình trạng khó khăn hoặc nguy hiểm. Đó là lý do tại sao những Tín Đồ Cơ Đốc ở Trung Quốc thì kinh lịch được phép lạ thường xuyên. Muốn trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc ở Trung Quốc thì thực sự cần phải giao phó hoàn toàn cho Chúa Trời, bởi vì bạn phải trả giá của sự lựa chọn này bằng cuộc đời của bạn. Đối với tôi, để trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc ở Trung Quốc thì cần sự giao phó hoàn toàn của tôi.

Được Ban Cho Giấy Phép Xuất Cảnh Và Giấy Phép Nhập Cảnh Vào Hong Kong

Từ một phép lạ này sang một phép lạ khác, Chúa Trời mở cửa cho tôi rời khỏi Trung Quốc. Nhưng khi tôi có giấy phép xuất cảnh rồi, thì tôi không có tiền mua vé xe lửa đi Hong Kong. Nhưng Chúa Trời đã cung cấp cho tôi mọi điều cần thiết! Bất thình lình, ông chú tôi gởi một món tiền cho tôi, cho dù chú tôi chưa hề gởi tiền cho tôi bao giờ. Chú không biết rằng tôi sắp rời khỏi Trung Quốc. Chú nhận được món tiền ba tôi gởi cho nhưng chú không muốn nhận lấy, cho nên chú đã gởi món tiền đó cho tôi chính trong lúc tôi sắp rời khỏi Trung Quốc. Chúa Trời đã sắp đặt thời khóa biểu một cách tuyệt vời.

Nhưng tôi lại gặp một khó khăn khác. Cho dù tôi có giấy phép xuất cảnh rồi, nhưng tôi vẫn không đi vào Hong Kong được. Bởi vì hồi đó Hong Kong đã có quá nhiều nạn dân, chính phủ nước Anh không muốn cho tôi nhập cảnh trừ phi tôi có chứng minh rằng tôi sẽ đi một quốc gia khác. Vấn đề này kéo dài một thời gian khá lâu, và giấy phép xuất cảnh của tôi sắp hết hạn rồi. Tòa Lãnh Sự Thụy Sĩ điện thoại Tòa Lãnh Sự Anh yêu cầu phát một giấy phép nhập cảnh cho tôi, nhưng vẫn bị từ chối.

Tôi đến trước mặt Chúa Trời và cầu xin Chúa rằng căn cứ theo lời dạy trong Kinh Thánh, nếu Chúa đã mở cửa nào, thì không ai đóng lại được. Hôm sau tôi đến Tòa lãnh sự Anh, nhân viên của Tòa lãnh sự hỏi tôi muốn làm gì, tôi nói rằng tôi muốn xin một giấy phép nhập cảnh đi vào Hong Kong. Nhân viên đó bảo tôi ngồi chờ một chút, rồi ông lấy hộ chiếu của tôi đi. Sau đó ông trở lại cùng giấy tờ tôi và hỏi rằng tôi định ở Hong Kong bao lâu, tôi xin cho một tháng. Thật là ngạc nhiên, một giấy phép nhập cảnh được ban liền.

Khi tôi đi ngang qua cái cầu từ Thâm Trấn đến Hong Kong, nhân viên nước Anh ở biên giới hỏi tôi rằng: “Anh biết nói tiếng Anh không?” Tôi trả lời: “Vâng.”

Ông nói: “Giấy phép của anh thì đặc biệt lắm.” Tôi hỏi rằng loại giấy phép một tháng này có gì đặc biệt đâu.

Ông nói: “Không! Anh được dài hơn một tháng nhiều! Họ đã cho anh ở lại Hong Kong không giới hạn! Chính tôi chưa hề thấy loại giấy phép này bao giờ!”

Tôi hỏi ông đó tôi nên làm gì, và ông nói: “Anh có thể ở lại Hong Kong bao lâu cũng được, tùy anh!”

Rốt cuộc tôi ở lại Hong Kong 9 tháng trời, và tôi còn có thể xin một thẻ căn cước Hong Kong nữa. Nếu sự kiện này không phải do Chúa Trời sắp đặt, thì quí vị làm sao mà giải thích được sự này?

Chúa Trời Thử Thách Lòng Trung Tín Của Tôi

Ở Hong Kong tôi cầu xin Chúa Trời rằng: “Bây giờ con ở đây rồi, Chúa muốn con làm gì?” Chúa Trời khải thị cho tôi rất rõ ràng rằng Ngài muốn tôi đi Âu Châu. Nhưng tôi không có việc làm gì cả, làm sao mà tôi có tiền đi Âu Châu?

Trong những năm đó, Hong Kong có hàng chục ngàn hàng trăm ngàn nạn dân, làm sao mà tôi cạnh tranh nổi với họ để tìm việc làm? Nhưng phương pháp của Chúa Trời thì rất kỳ diệu. Một hôm tôi thấy trên tờ báo có một việc làm là phiên dịch từ chữ Anh sang chữ Hoa và cũng từ chữ Hoa sang chữ Anh. Đó là một việc làm của chính phủ, trả lương rất cao, tôi bèn đi xin liền. Đến buổi họp mặt, tôi thấy có nhiều người khác cũng ganh lấy việc làm này. Tôi làm bài thi vấn đáp và bài thi viết, rồi sau đó tôi được nhận vào việc làm này.

Rồi Chúa Trời tiếp tục đặt tôi trong một cuộc thử thách. Việc làm này là dài hạn, nhưng mà tôi chỉ muốn làm việc tạm thời, rồi tôi sẽ đi Âu Châu. Tôi vật lộn trong lòng ngẫm nghĩ rằng tôi có nên nói thiệt cho nhân viên trong vụ nhân sự biết không. Tôi biết nếu tôi nói thiệt thì tôi sẽ mất việc này. Rốt cuộc tôi quyết định tôi phải thành thật, tôi nói với Chúa Trời rằng: “Chúa đã làm bao nhiêu chuyện cho con rồi. Nếu Chúa vui lòng cho con việc làm này, cho dù điều kiện nào đi nữa, con vẫn chắc chắn được việc này.”

Tôi viết một bức thư để cám ơn nhân viên trong vụ nhân sự đã nhận lấy tôi. Nhưng tôi nói cho ông biết rằng tôi là một Tín Đồ Cơ Đốc, và tôi phải thành thật về tình trạng của mình, tôi chỉ muốn làm việc khoảng một hay hai năm rồi tôi sẽ đi Âu Châu. Trong thư trả lời ông viết rằng: “Tôi cám ơn sự thành thật của cậu, nhưng chúng tôi muốn tìm một người làm việc dài hạn. Trừ phi cậu suy nghĩ kỹ coi, và cậu chịu làm cho chúng tôi dài hơn một hay hai năm, bằng không chúng tôi phải đi mướn người khác.” Tôi không cách nào nữa mà phải nói cho họ biết rằng xin giao việc làm này cho người khác.

Sau khi tôi quyết định như vậy rồi, tôi bị các Tín Đồ khác khiển trách, họ cũng ở tại cùng một nhà trọ cung cấp bởi Hội Thánh Lutheran. Họ nói: “Thiệt là ngu dại! Anh không biết có bao nhiêu nạn dân ở Hong Kong đang nhịn đói sao?” Một trong những người khiển trách tôi là vị trưởng lão của Hội Thánh chúng tôi ở Thượng Hải. Ông nói: “Vấn đề của bọn trẻ tuổi là họ không hiểu rõ tình trạng thực tế của cuộc đời. Coi tôi này, tôi đã năm mươi mấy tuổi rồi, tôi đã làm việc trong một hãng dầu xăng hơn ba mươi năm rồi, nhưng tôi được cái gì đây? Tiền lương của tôi chỉ nhiều hơn một chút tiền lương của việc làm mà anh được nhận. Thử tưởng tượng xem, một người trẻ tuổi mà được tiền lương như vậy! Mà anh lại ngu dại đi từ chối việc này!” Tôi bị họ khiển trách rất nặng. Tôi không nói gì để bào chữa cho mình cả, tôi chỉ giao phó việc này cho Chúa Trời thôi.

Bây giờ tôi lại kẹt vào trong tình trạng cũ, tôi vẫn không có việc làm, và tôi vẫn không biết ở đâu mà kiếm được tiền đi Âu Châu. Một trường học của Đạo Tin Lành chịu mướn tôi làm giáo sư Anh ngữ, nhưng tiền lương thì ít quá, cho dù tôi làm suốt đời vẫn không dành đủ tiền đi Âu Châu. Mà rốt cuộc việc làm đó cũng không thành.

Tôi biết ở Hong Kong thì có nhiều tàu lớn, cho nên tôi đi hỏi những thuyền trưởng đó coi coi họ có cần người làm việc trên tàu không. Những thuyền trưởng đó thì tử tế với tôi lắm, nhưng họ không thể mướn tôi được, bởi vì đã có đủ người làm việc rồi. Nhưng Chúa Trời có một kế hoạch cho tôi, Ngài đang thử thách lòng trung tín của tôi.

Một Bà Cụ Tín Đồ Người Mỹ Tặng Cho Tôi Món Tiền Để Mua Vé Tàu Đi Âu Châu

Lúc đó ở bên kia của Thái Bình Dương, ở bờ biển miền tây của nước Mỹ, ở xứ Oregon, có một bà cụ Tín Đồ Cơ Đốc đang quỳ xuống cầu nguyện.  Chúa Trời nói với bà rằng: “Con hãy đi Hong Kong bởi vì ta muốn con đi làm một việc cho ta.” Bà cụ này thì khoảng năm mươi tuổi, bà thuộc về một gia đình giàu có. Bà chưa hề rời khỏi nước Mỹ bao giờ, đối với bà đi Hong Kong thì tựa như đi mặt trăng vậy.

Bà nói với chồng bà rằng: “Hôm nay khi em đang cầu nguyện, Chúa bảo em đi Hong Kong.” Chồng của bà cũng là một người Tín Đồ trung tín, ông nói với bà rằng: “Nếu Chúa bảo em đi Hong Kong, thì em nên đi.”

Rồi bà đến trước mặt Chúa Trời và hỏi rằng bà phải làm gì ở Hong Kong, Chúa Trời chỉ nói rằng: “Con đi Hong Kong, rồi ta sẽ cho con biết con phải làm gì.” Một trong những nguyên tắc trong đời sống Tín Đồ Cơ Đốc là thông thường Chúa Trời dẫn dắt ta từng bước một mà thôi. Cho nên bà đi đến Hong Kong và ở trong cùng một nhà trọ của Hội Thánh Lutheran mà tôi đang ở. Trong mấy tuần lễ, mỗi ngày bà cứ cầu xin Chúa cho bà biết Chúa muốn bà làm gì.

Một hôm trong lúc tôi đang cầu nguyện, thì có tiếng gõ cửa. Tôi mở cửa ra thì bà cụ này đang đứng ở đó. Bà nói với tôi rằng: “Chúa Trời vừa khải thị cho tôi, Chúa bảo tôi đi mua một vé tàu cho cậu đi Âu Châu.” Tôi tạ ơn bà nhưng tôi xin bà nên cầu xin Chúa chỉ dẫn rõ ràng hơn. Bà nói ngay rằng: “Không! Chúa Trời đã chỉ dẫn rõ lắm rồi!”

Một vài ngày sau bà trở lại hỏi tôi đã mua vé chưa. Khi tôi nói chưa, thì bà nói: “Đi mua vé liền đi. Bây giờ tôi biết chắc chắn lắm rồi tại sao Chúa lại bảo tôi đến đây. Chúa đã giao phó một nhiệm vụ cho tôi, đó là để đưa cậu đi Âu Châu. Mua vé đi, đừng chậm trễ nữa!” Hôm đó là ngày thứ sáu.

Mỗi ngày tôi cũng đọc báo, tôi biết thời khóa biểu, đường đi và giá tiền của tất cả các tàu biển rời Hong Kong đi Âu Châu. Tôi cũng biết vé tàu đi Âu Châu rẻ tiền nhất là một chiếc tàu sẽ rời Hong Kong vào thứ ba tuần sau. Sau khi bà Tín Đồ nhân từ này trao cho tôi một tờ cheque với số tiền đầy đủ rồi, tôi đi đến hãng đại lý tàu thủy để mua vé tàu. Nhưng tôi đến chỗ đó thì ông đó cho tôi hay rằng giá của vé tàu đã gia tăng 20% bởi vì cuộc chiến tranh ở Kinh Suez vào năm 1956. Kinh Suez đã đóng lại vì cuộc chiến tranh, và không ai biết rằng trong khoảng một tháng Kinh Suez có mở lại hay không, mà một tháng sau thì chiếc tàu sẽ đến vùng đó rồi. Nếu Kinh Suez không có mở thì chiếc tàu phải đi một khoảng đường dài vòng qua Nam Phi và Hữu Vọng Các (The Cape of Good Hope). Tôi hỏi hãng đại lý tàu thủy rằng món tiền phụ 20% đó có được trả lại không nếu rốt cuộc chiếc tàu có thể đi vượt qua Kinh Suez. Ông đó không biết chắc, nhưng ông nói trả tiền lại thì khó lắm, tại vì phải mua bảo hiểm cao hơn khi chiếc tàu đi qua Kinh Suez ngay sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, bởi vì tại vùng biển đó có nhiều thủy lôi và có nhiều tàu đã bị chìm rồi. Nhưng dù sao đi nữa, trên vé tàu sẽ có một câu nói rằng: “Vì tình hình tại Kinh Suez, công ty tàu thủy sẽ giữ lại hết thảy hay một phần của 20% tiền phụ này, và công ty sẽ có quyền quyết định về việc này.” Hôm đó đã là thứ sáu rồi, và chiếc tàu sẽ rời vào ngày thứ ba tuần sau. Bằng cách nào mà tôi có thể kiếm thêm số tiền phụ này?

Khi tôi trở về nhà trọ Lutheran, bà đó hỏi tôi đã mua vé tàu chưa. Khi tôi nói cho bà biết về 20% tiền phụ đó, thì bà kêu than rằng: “Khen ngợi Chúa Trời! Mọi việc đều tốt đẹp quá! Khi cậu đi rồi, thì tôi nhận được điện tín của chồng tôi, ông cho tôi hay rằng ông vừa gởi thêm một số tiền cho tôi. Ông không biết nguyên nhân tại sao, nhưng Chúa Trời đã chỉ thị cho ông nên gởi thêm số tiền này cho cậu. Ông nghĩ rằng cậu cần món tiền này. Đây là món tiền đó. Cậu hãy trở về hãng đại lý để mua vé đi!” Khen ngợi Chúa Trời vì những người dân của Ngài vui lòng theo đuổi đường lối của Ngài! Tôi từ Trung Quốc đến Hong Kong, và Chúa Trời sai một người từ nước Mỹ xa tận chân trời đến gặp mặt tôi ở Hong Kong để đưa tôi đi Âu Châu! Quí vị có thấy chưa? Quí vị có nghĩ rằng đây chỉ là tình cờ ngẫu nhiên chăng? Chúa Trời thì rất chân thật và kỳ diệu. Ngài phối hợp thời gian thật là hoàn hảo. Tôi rời Hong Kong vào ngày thứ ba, và bà cụ Tín Đồ kia trở về nước Mỹ vào ngày thứ tư.

Những Chuyện Kỳ Diệu Trong Cuộc Hành Trình Đi Âu Châu Bằng Tàu Biển

Chiếc tàu là tàu chở hàng và chỉ có 12 hành khách thôi. Tôi ở cùng một phòng với một người khách đi Singapore (Tân Gia Ba). Khi chiếc tàu đến gần Singapore, khi đường chân trời của Singapore càng ngày càng rõ, thì người này quỳ xuống cùng một lượt với tôi và giao phó cuộc đời của người cho Chúa.

Trong cuộc hành trình còn lại đi Âu Châu, tôi có cả một phòng riêng, tôi được nghỉ ngơi thiệt thoải mải và sức khỏe của tôi phục hồi lại. Trên chiếc tàu chở hàng thì mọi người đều là hành khách hạng nhất. Trên tàu tôi được ăn những món ăn ngon và bổ dưỡng, với lại tôi được nghỉ ngơi đầy đủ, Chúa Trời sắp đặt mọi việc để cho tôi phục hồi lại sức khỏe.

Ở Miến Điện những người công nhân đang có cuộc đình công, cho nên chiếc tàu ngừng lại một tháng để chờ đợi các hàng hóa trở đi Âu Châu. Kết quả là tôi ở trên tàu hai tháng trời nhưng tôi chỉ trả tiền một hành trình thường thôi. Khi tôi đến Âu Châu thì sức khỏe tôi đã phục hồi lại. Chúa Trời thấu hiểu tất cả mọi điều cần thiết của tôi.

Trong chuyến đi đó, những người hành khách thảo luận với nhau rằng họ có lấy lại được món tiền phụ 20% hay không. Họ hỏi ý kiến tôi, tôi nói tôi biết chắc rằng tôi sẽ lấy lại được món tiền đó. Họ lấy làm ngạc nhiên về câu trả lời của tôi, họ hỏi tại sao tôi lại biết. Tôi không thể giải thích cho họ, nhưng Chúa Trời đã cho tôi biết rằng tôi sẽ lấy lại được món tiền đó.

Khi chúng tôi đến Âu Châu rồi, chúng tôi xuống tàu rồi đến ngay văn phòng của công ty tàu thủy. Người đại lý cho tôi một tờ cheque với món tiền phụ 20% đó. Người kế tiếp cũng mong được một tờ cheque như vậy, nhưng ông đại lý từ chối không cho ông cái gì hết, tại vì đã ghi trong giao kèo rằng được hoàn lại món tiền hay không là hoàn toàn do công ty tàu thủy quyết định. Mười bạn hành khách của tôi ở lại văn phòng cả ngày, họ mong có thể lấy lại tiền phụ 20% đó, nhưng đều không được.

Chuyện hoàn lại món tiền phụ 20% này thì kỳ lạ lắm. Tôi trả tiền vé ở Hong Kong bằng đô-la Mỹ, và tôi nhận được tiền hoàn lại ở nước Nam Tư, nhưng món tiền hoàn lại đó không phải là tiền Hong Kong, cũng không phải là đô-la Mỹ, mà lại là tiền pound của nước Anh. Sau này tôi mới hiểu được tất cả những điều này đều do Chúa Trời sắp đặt sẵn.

Chúa Trời Hướng Dẫn Tôi Đi Học Tại Học Viện Kinh Thánh Ở Xứ Ê-cốt Của Nước Anh

Sau khi đến Âu Châu rồi, tôi đi Thụy Sĩ thăm má tôi liền, má vừa có một cuộc mổ xẻ rất nguy hiểm. Tôi chờ đợi coi Chúa Trời có chỉ dẫn cho tôi nên làm gì ở Âu Châu. Một hôm tôi đi Zurich thăm ông chủ tịch của Ngân Hàng Thụy Sĩ. Một người bạn ở Hong Kong cho tôi cái tên và địa chỉ của ông này. Ông là một Tín Đồ Cơ Đốc rất tốt, cả gia đình của ông đều rất tốt và khiêm nhường.

Khi tôi lên xe lửa rời Zurich, thì vợ của ông này cho tôi một cuốn tạp chí để đọc trên xe lửa. Tôi nhận lấy cuốn tạp chí và tạ ơn bà. Trên cái bìa đằng sau của tạp chí thì có trang quảng cáo của một học viện Kinh Thánh ở Ê-cốt. Tôi tự nhủ rằng, không chừng tôi nên xin vào học viện Kinh Thánh này.

Tôi không biết Chúa Trời muốn tôi làm gì. Ban đầu tôi muốn theo học kỹ sư, nhưng tôi càng ngẫm nghĩ thì càng thấy rằng tôi nên theo học tại một học viện Kinh Thánh trước khi tôi học những môn khác. Tôi cắt ra trang quảng cáo đó, rồi tôi xin vào học viện Kinh Thánh này ở Ê-cốt. Mãi cho đến tôi được nhận vào học viện này rồi, thì tôi mới hiểu được lý do tại sao trước kia tôi nhận được tiền phụ hoàn lại của vé tàu bằng tiền pound của Anh. Chúa Trời đã biết trước rằng tôi sẽ vào học viện Kinh Thánh này ở nước Anh. Khi tôi trả học phí cho nhà trường bằng tờ cheque đó, thì món tiền vừa đủ để trả học phí kỳ học đầu tiên. Chúa Trời thực sự đã sắp đặt  mọi việc hoàng hảo.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (2)

Tôi Nhận Biết Đức Chúa Trời Như Thế Nào

Vượt Biên Thất Bại Bị Bắt Giam Vào Nhà Tù

Tôi quyết định tìm cách rời khỏi Trung Quốc, tôi cùng một vài bạn bè bắt đầu tổ chức những buổi họp bí mật để thảo luận tìm cách vượt biên. Chúng tôi quyết định hai người trong bọn chúng tôi, tôi là một trong hai ngưới đó sẽ đi xuống miền Nam để tìm đường vượt biên, rồi sẽ báo tin cho những người khác về đường lối trốn thoát.

Tôi và bạn tôi làm việc thật táo báo và liều lĩnh. Chúng tôi đi xe lửa đến Quảng Châu, rồi từ đó chúng tôi thử đi tìm một người dẫn đường để chỉ dẫn đường lối vượt qua biên giới. Nhưng chúng tôi không tìm được một tên nào cả.

Bởi vậy chúng tôi quyết định tự mình đi thành phố Thâm Trấn, không cần người dẫn đường. Chúng tôi muốn vượt biên vào ban đêm, chúng tôi biết đó là một điều nguy hiểm lắm. Tuy rằng chúng tôi không tin vào tôn giáo nào cả, nhưng trong ban đêm trước ngày khởi hành, chúng tôi đều có cái cảm giác kỳ lạ trong lòng. Giác quan thứ sáu của tôi cảm thấy rằng chúng tôi sẽ gặp chuyện không hay. Bạn tôi cũng cảm thấy như vậy. Chúng tôi không biết nên coi trọng niềm báo trước này đến mực nào. Tôi biết rằng trong những chuyện cổ Trung Quốc, trong một cuộc chiến tranh, tri giác thuộc linh thì rất là quan trọng. Kinh Thánh cũng nói rằng loài người có linh hồn. Nhưng chúng tôi không hiểu rõ nguyên tắc này, và cứ gạt bỏ cái cảm giác kỳ lạ này.

Ngày hôm sau chúng tôi đi về Thâm Trấn. Khi xe lửa đến chỗ đó, thì chúng tôi biết rằng số mạng của mình đã xác định rồi. Trong thành phố Thâm Trấn chỗ nào cũng có dây thép và quân lính canh giữ. Những hành khách phải xuống xe rồi lấy ra giấy phép, chúng tôi thử đi theo những hành khách hướng về Hong Kong. Phần đông hành khách đều có giấy phép nhập cảnh đi vào Hong Kong, nhưng chúng tôi lại không có. Cho nên chúng tôi rời khỏi đám đông đó và đi về một làng nhỏ. Chúng tôi đi được một khoảng đường ngắn thì thấy ở phía trước một người đàn ông và một đứa trẻ con đã bị ba, bốn người lính bao vây lại và đang tra coi giấy tờ của họ. Chúng tôi muốn nhân dịp họ đang bận rộn mà vòng qua những quân lính đó. Nhưng một người lính đã thấy chúng tôi và bảo chúng tôi trở lại. Khi chúng tôi không xuất trình được giấy tờ gì cả, thì họ bắt đầu kiểm soát chúng tôi. Chẳng may cho tôi, vì tôi có mang theo một con dao đi săn để tự vệ. Người lính cầm con dao ghê tởm đó trước mặt tôi và hỏi tôi rằng con dao này là để làm gì. Tôi nói là dùng để cắt dưa hấu, và lẽ dĩ nhiên nó không tin lời của tôi. Chúng tôi bị bắt lại và bị giải đi nhà tù cùng một lượt với đàn ông và con trẻ đó.

Nhà tù là một căn nhà nhỏ bao vây bởi nhiều dẫy vật chướng ngại nặng nề. Khi chúng tôi trên đường đi đến nhà tù, tôi vừa đi vừa nghiên cứu những chi tiết nhỏ ở xung quanh để sửa soạn cuộc chạy trốn. Từ xa tôi thấy vẻ mặt của người ta nhìn ra ngoài sau những cột dầy, quân lính canh giữ mọi nơi. Nhìn vào cách đi đứng và cách cầm súng của họ, tôi biết họ là những người lính kỳ cựu. Chúng tôi bị giam giữ trong nhà tù để chờ đợi ông sĩ quan chi huy quyết định số mạng của chúng tôi. Thời gian hình như kéo dài vô tận. Có vài người tù nhân đã xì xào với nhau rằng không chừng tất cả mọi người đều sẽ bị xử tử.

Gặp Gỡ Với Đức Chúa Trời Lúc Ở Trong Nhà Tù

Khi một người phải đối diện với sự chết thì tự nhiên trở nên khôn ngoan và nhạy cảm về những chuyện thuộc linh. Tôi ngồi đó một mình nghĩ rằng: “Cho dù tôi vẫn còn trẻ, nhưng coi tình hình này thì hình như là tận đường đời của tôi rồi. Tất cả những mộng tưởng của tôi, những chí hướng của tôi, tất cả những hy vọng của tôi là hết rồi. Ba má tôi còn chưa biết chuyện gì xảy ra cho tôi cả.” Tôi tự hỏi rằng: “Đời người là gì? Chúng tôi sống cho gì vậy?” Tôi cảm thấy tuyệt vọng, rồi tôi tự nhủ rằng: “Tôi không có ngồi đây mà chờ chết đâu! Nếu mà tôi phải chết, thì tôi sẽ đánh cho đến cùng! Trước khi họ bắn tôi chết thì tôi sẽ chộp một vài người lính đã!” Cho nên tôi bắt đầu nghiên cứu hành động của một người lính để tìm cách giựt lấy cây súng của nó.

Bất thình lình một con chim bay vượt trên đầu tôi, tôi nhìn lên tầng trời và nghĩ rằng: “Trên đó có một vị Chúa Trời hay không? Có nhiều người tin vào Chúa Trời vì lý do tình cảm, nhưng nếu mà thực sự có một vị Chúa Trời thì sao? Như vậy tôi đã phạm một lỗi lầm lớn nhất trong đời tôi. Bằng cách nào mà tôi biết được có Chúa Trời hay không? Đây là một cơ hội để coi coi Chúa Trời có cứu vớt được tôi hay không!”

Tôi biết tôi không thể yêu cầu Chúa Trời cái gì hết, tôi không phải là người Tín Đồ. Trước kia tôi nghĩ rằng Tín Đồ Cơ Đốc là yếu đuối và ngu dại. Có một lần một vị trưởng lão của một Hội Thánh truyền giảng cho tôi lời dạy của Chúa, rồi tôi đánh đổ tất cả những lý lẽ của ông đó, tôi thì mừng lắm. Tại vì ông đó không cách nào biện hộ cho lý luận của mình thì khiến tôi càng tin rằng Tín Đồ Cơ Đốc là yếu đuối về cả tình cảm lẫn trí tuệ. Và điều đó cũng chứng tỏ cho tôi thấy rằng Chúa Trời không tồn tại. Nhưng tôi sai rồi! Vị trưởng lão đó không biện hộ được lý luận của mình, nhưng không phải là lý luận đó sai lầm. Tôi thấy rằng sau cùng chính tôi là người ngu dại, chứ không phải là vị trưởng lão kia. Rốt cuộc tính kiêu ngạo và lòng tự tin của tôi có đạt được cái gì cho tôi đây? Bây giờ tôi ngồi trong nhà tù này mà chờ đợi cuộc đời của mình kết thúc một cách thấp hèn.

Tôi nhìn lên tầng trời và nghĩ rằng: “ Bằng cách nào mà một người nhận biết được Chúa Trời?” Nhưng tôi cảm thấy rằng Chúa Trời sẽ không nói chuyện với tôi đâu bởi vì tôi đã làm nhục Tín Đồ của Ngài, không chừng tôi không nên cầu nguyện nữa. Nhưng tôi lại nghĩ rằng phương pháp để nhận biết một người là nói chuyện với người đó. Cái nguyên tắc này trong đời sống thì áp dụng vào người đời, mà chắc cũng có thể áp dụng vào Chúa Trời chứ! Khi bạn nói chuyện với Chúa Trời và Chúa Trời nói chuyện với bạn, thì bạn sẽ nhận biết được Chúa Trời. Cho nên tôi tự nhủ rằng: “Tôi phải bắt đầu cuộc đối thoại này. Nếu mà Chúa Trời tồn tại, không chừng Chúa Trời sẽ trả lời tôi khi tôi nói chuyện với Ngài.”

Tôi đang gõ vào cửa Thiên Đàng. Tôi không biết nên cầu nguyện như thế nào. Nhưng tôi biết rằng tôi phải thành thật với Chúa Trời, tôi cầu xin rằng: “Chúa Trời ơi, nếu Chúa là ở đây, nếu Chúa là Đấng hằng sống, nếu Chúa là thiệt, nếu Chúa tồn tại, bây giờ tôi đến trước mặt Chúa cầu xin Chúa cứu tôi khỏi nhà tù này. Nếu Chúa không cứu tôi, thì ngày mai tôi sẽ chết đi. Tôi cảm thấy rất xấu hổ mà tôi phải kêu cầu Chúa trong tình trạng này. Tôi cũng biết rằng tôi sẽ không được cứu bởi sức lực của mình. Bởi vậy nếu Chúa cứu tôi ra khỏi nhà tù này và cứu được sinh mạng tôi, thì tôi biết rằng Chúa là Đấng Chúa Trời hằng sống, và tôi sẽ phụng sự Chúa và sống cho Chúa suốt đời.” Tôi cảm thấy rằng nếu Chúa Trời thực sự tồn tại thì nhận biết Chúa và phụng sự Ngài là rất vinh diệu. Bây giờ quí vị thấy tại sao tôi nói rằng tôi trở thành một người Tín Đồ Cơ Đốc và tôi phụng sự Chúa, hai việc này không tách rời nhau được. Ngay từ lúc tôi nhận biết Chúa, tôi đã hẹn với Chúa là tôi sẽ phụng sự Ngài suốt đời.

Sau khi cầu nguyện rồi, tôi ngồi xuống không biết làm gì mới phải. Rồi có một việc xảy ra. Tôi cảm thấy Thiên Đàng mở ra và tôi đang đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Tuy rằng tôi không phải tìm kiếm kinh lịch đặc biệt, nhưng tôi biết Chúa Trời đang ở xung quanh tôi. Trong sách Xa-ra-chi 2:5 nói rằng, “ Vì ta, Đức Giê-hô-va phán : ‘Ta sẽ làm tường bằng lửa xung quanh nó, và sẽ làm sự vinh hiển ở giữa nó.’ ” Đó chính là kinh lịch của tôi cho dù hồi đó tôi không biết câu Kinh Thánh này. Trong lòng tôi tràn đầy vui mừng, tôi tưởng rằng tôi khùng rồi. Tôi thì vui mừng đến nỗi muốn nhảy lên nhảy xuống. Tôi chưa từng kinh lịch một chuyện như vậy, tôi gần như là say rượu rồi.

Tôi có thể hiểu được cái cảm giác của các sứ đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần, trong lòng họ tràn đầy vui mừng đến nỗi người ta tưởng rằng họ say rượu rồi. Vẻ mặt tôi chắc là mừng lắm bởi vì bạn tôi hỏi tôi rằng tại sao tôi lại mỉm cười. Tôi có nên nói cho anh này biết rằng tôi đã gặp mặt với Chúa Trời hay không? Tôi không biết nói gì mới phải, cho nên tôi chỉ nói rằng: “ Mọi việc đều tốt lắm.” Anh này cải lại: “Anh nói mọi việc đều tốt nghĩa là gì? Chúng ta sắp bị bắn chết kìa!” Khi tôi càng nói với anh ấy rằng mọi việc đều tốt thì anh càng tức giận hơn. Anh này la hét càng lớn tiếng hơn đến nỗi một người lính nói rằng: “Im đi! Tụi bay cấm không được nói chuyện!”

Cuộc gặp gỡ với Chúa Trời thiệt là uyên thâm, tôi biết rằng một chuyện kỳ diệu đã xảy ra. Rồi tôi tự hỏi ý nghĩa của kinh lịch này là gì? Thì chỉ có một ý nghĩa thôi: Chúa Trời cho tôi hay rằng Ngài đã nhận lời cầu nguyện của tôi và Ngài sẽ cứu tôi ra khỏi nhà tù! Trong khi tôi còn đang ngẫm nghĩ về chuyện này, quan chỉ huy Lý bắt người đàn ông đó và con nít nhỏ về. Quan chỉ huy vừa mới tra hỏi xong ông này. Một người lính mở cửa ra và đẩy đàn ông đó vào, rồi đóng cửa lại. Đàn ông này khoảng chừng bốn mươi tuổi, không có phạm tội gì nặng, ông không có đem võ khí và ông còn dắt theo một con nít nhỏ nữa. Mà tôi lại dám nghĩ rằng Chúa Trời sẽ cứu tôi ra khỏi nhà tù ư?

Rồi tôi được gọi đi chịu tra hỏi, ông sĩ quan dẫn tôi đến một phòng gần như trống rỗng, chỉ có một ghế thấp trong một góc nhà, họ bảo tôi ngồi trên đó. Tôi muốn ngồi gần ông này một chút, hay là đối diện nhau, cho nên tôi xách cái ghế lại gần ông. Ông lấy cây súng ra và ra lệnh tôi phải trở về góc nhà kia.

Ông hỏi tôi nhiều câu hỏi, thí dụ như: Tôi làm gì? Tôi có thuộc về một tổ chức bí mật nào không? Tại sao tôi muốn đi Hong Kong?

Tôi trả lời rằng: “Ai mà có đầu óc sáng sủa lại muốn đi Hong Kong? Tôi chỉ muốn kiếm tiền ở Thâm Trấn thôi, bởi vì đời sống khó khăn quá.” Ông nói: “Để tôi hỏi mày một câu hỏi trực tiếp, nếu tôi cho mày một cơ hội đi Hong Kong, thì mày có đi không?” Tôi nói: “Nếu ông đặt câu hỏi như vậy, thì tôi sẽ trả lời vâng, tôi sẽ đi. Nhưng ý của ông muốn nói gì?”

Ông sĩ quan này ghi lại vài trang giấy về lời khai của tôi. Khi ông viết xong rồi, ông ra lệnh tôi đánh dấu ngón tay trên tờ giấy đó. Tôi nói rằng tôi không muốn làm như vậy trừ phi ông cho phép tôi đọc lại để biết rõ lời khai của chính mình là gì trước đã. Nhưng ông từ chối không cho tôi đọc. Bởi vậy tôi nói rằng: “Tôi đang ký tờ khai tử của chính mình, phải không?”

Ông nói, “Đó là tùy mày quyết định. Mày có muốn để dấu ngón tay của mày ở đây không?”

Tôi đang ở một tình trạng không xoay xở được, đường nào tôi cũng bị bắn chết. Bởi vậy tôi để dấu ngón tay tôi trên tờ giấy đó. Họ dẫn tôi ra khỏi cái phòng đó. Rồi ông sĩ quan gọi bạn tôi vào và nói với anh này rằng: “Bạn của mày đã khai ra tất cả mọi việc rồi. Đây là tờ khai, đọc đi!” Sau khi bạn tôi đọc xong rồi, mặt của anh xanh cả. Anh nói: “Cái gì đây? Mày khai tất cả những việc này ư?” Số mạng của ta đã quyết định rồi. Mãi cho đến bây giờ tôi vẫn không biết rõ tôi đã khai cái gì. Bởi vậy mỗi khi tôi nghe rằng những người lãnh đạo Hội Thánh ở Trung Quốc khai rằng họ đã phạm tội này tội kia, tôi đều suy ngẫm rất kỹ lưỡng.

Bạn tôi cho tôi biết tôi đã khai rằng tôi thuộc về một tổ chức bí mật, và tôi đã làm cái này cái nọ. Những tội ác mà họ nói tôi đã khai ra thì thật xứng đáng bắn tôi chết ba lần. Chúng tôi không làm gì được nữa, chỉ có chờ đợi họ bắn chết thôi. Tôi đã chứng nhận lời khai của mình bằng dấu ngón tay. Tôi bắt đầu ngẫm nghĩ Chúa Trời sẽ nhận lời cầu nguyện của tôi và cứu tôi ra khỏi nhà tù bằng cách nào.

Được Thả Ra Khỏi Nhà Tù – Lần Đầu Tiên Kich Lịch Sự Kỳ Diệu Của Đức Chúa Trời

Đến ban đêm họ vẫn không cho chúng tôi thức ăn gì hết. Có một lần ông sĩ quan đến gần, tôi tưởng rằng thời hạn đã đến rồi. Nhưng ông này chỉ muốn khóa chúng tôi lại ở một phòng nhỏ trong ban đêm. Sáng hôm sau ông này lại bắt chúng tôi trở về sân tù, và chúng tôi lại ngồi trên cái hòn đá chờ đợi. Buổi chiều ông sĩ quan gọi tôi vào phòng và nói với tôi rằng: “Nghe này, tôi không muốn cầm giữ mày lại hay là bắn chết mày. Tôi sẽ đem mày đến trạm xe lửa, mày đi lên chuyến xe lửa đó. Lìa khỏi nơi này, đi về Quảng Châu ngay và đừng bao giờ trở lại đây vô giấy phép.” Tôi tự hỏi: “Chuyện gì xảy ra đêm vừa qua đây? Tại sao ông này lại thả tôi ra sau khi đã lấy tờ khai tội của tôi? Cái này là một âm mưu hay sao?”

Ông sĩ quan bắt tôi đi đến trạm xe lửa và đem tôi lên xe lửa. Khi tôi đến Quảng Châu, tôi không thấy một quân lính nào chờ đó để bắt tôi cả. Tôi tự nhủ rằng: “À, cái này là thiệt chứ! Họ đã thả tôi ra! Tại sao vậy?” Mãi đến nay, tôi vẫn không biết chuyện gì đã xảy ra. Chỉ có một giải thích duy nhất là: Chúa Trời đã làm một việc nào đó cho ông sĩ quan này trong đêm vừa qua.

Còn kỳ diệu hơn nữa là điều này, ông sĩ quan không có ghi cái gì trên sổ công an của tôi cả. Khi bạn đi từ nơi này qua nơi khác ở Trung Quốc, bạn phải mang theo một sổ sách nhỏ để ghi lại tất cả hành trình của bạn. Nếu bạn đi từ Thượng Hải đến Quảng Châu, thì sau khi bạn đến nơi rồi, bạn phải báo cho công an hay. Sổ sách công an của tôi đáng lẽ phải ghi rằng tôi đem theo một võ khí nguy hại và tôi đi vào vùng cấm ở Thâm Trấn vô giấy phép, rồi tôi bị bắt và tôi đã phạm những tội ác đáng bị xử tử hay đáng bị gởi đi lao động cải tạo. Không có một dấu vết của tất cả những sự kiện này, đó thì thiệt là kỳ lạ, bởi vì ông sĩ quan đó chắc có ghi lại những điều này trong hồ sơ của ông ở Thâm Trấn, nhưng ông không có ghi gì hết trong sổ công an của tôi. Nếu mà ông có ghi lại những điều này, thì hôm nay tôi không có đứng ở đây đâu. Tôi sẽ không cách nào rời khỏi Trung Quốc được, bởi vì tôi sẽ bị liệt vào sổ đen là tên phản cách mạng. Đó là lần đầu tiên tôi kinh lịch một phép lạ.

Tìm Gặp Tín Đồ Của Chúa Giê-su Ở Thượng Hải

Sau khi trở về Thượng Hải, thì tôi phải đối diện với một vấn đề: Tôi phải giữ lời hứa của tôi là phụng sự Chúa Trời suốt đời. Tôi có phải hẹn quá nhiều không? Không chừng tôi nên hẹn cái gì nhẹ hơn, chẳng hạn như là suốt đời tôi sẽ đi dự lễ thờ phượng mỗi một Chúa Nhật. Không chừng cả sự kiện này chỉ là tình cờ thôi. Không chừng có thể giải thích bằng một lý do nào đó tại sao tôi lại được thả ra từ nhà tù. Nhưng cho dù có một lý do, sự kiện này vẫn là một phép lạ.

Đời sống ở Thưởng Hải thì trở nên càng ngày càng khó khăn cho tôi. Thời tiết thì lạnh lắm. Tôi không biết ba má tôi ở đâu cả. Tôi không còn tiền nữa. Bạn bè tôi từ từ bỏ rơi tôi bởi vì họ sợ rằng tôi sẽ xin họ cho mượn tiền. Lúc đó tôi mất hết tất cả bạn bè, ngoại trừ một anh bạn là con của người quét nhà. Khi tôi còn giàu sang, tôi muốn làm bạn với anh này vì anh là một người tốt. Nhưng ba tôi thì lấy làm ngượng lắm vì tôi kết bạn với con của một người vô học thức thấp hèn. Rốt cuộc thì chỉ có anh này là một người bạn duy nhất trung thành với tôi. Anh này để tôi ngủ trong phòng kho, bởi vậy tôi không cần phải ngủ ở ngoài đường. Tôi bán đi cái đồng hồ đeo tay và tất cả tài sản của tôi để mua thức ăn. Món tiền đó giúp tôi sống qua một hai tháng.

Chúa Trời đang đối phó với tính kiêu ngạo của tôi. Ngài đã đem tôi từ một chỗ có quyền lực và địa vị cao sang xuống hẳn nơi thấp hèn nhất, bởi vì tôi phải rửa mặt và tắm gội ở vòi nước ngoài đường chỗ mà người ta dùng để rửa xe. Tôi không có áo quần thay mặc, áo trắng của tôi đã thành ra màu vàng rồi. Tôi đang kinh lịch cuộc đời của con trai phá của trong ví dụ của Kinh Thánh. Từ một nơi cao sang có quyền lực, Chúa Trời đã nghiền nát tôi xuống nơi rãnh nước thấp hèn.

Khi những bạn bè của thế gian này bỏ rơi tôi, thì tôi bắt đầu nghĩ rằng Tín Đồ của Chúa Giê-su sẽ đối đãi tôi như thế nào. Tôi đi bộ thiệt xa đến một nhà thờ, tôi không biết tôi sẽ gặp phải tình trạng gì. Chúa Trời đã phối hợp thời gian một cách kỳ diệu, tôi đến nhà thờ nhằm lúc họ có buổi tụ họp. Khi tôi gõ cửa, người đến mở cửa lại chính là vị trưởng lão từng bị tôi nhạo báng làm nhục. Ông này nhận ra tôi liền, ông nói rằng: “Anh Hòa, xin mời vào!” Ông này rất niềm nở và nhân từ làm cho tôi thấy rằng những người Tín Đồ của Chúa Giê-su có một phẩm chất đặc biệt trong cuộc đời của họ. Tôi không biết tại sao họ không tức giận tôi cả, cho dù tôi từng làm nhục họ.

Lúc đầu tôi thích lòng nhân từ của họ lắm, nhưng tôi dần dần trở nên nghi ngờ. Họ có mục đích gì đây? Họ muốn biến đổi tôi sao? Nhưng sau đó tôi ngẫm nghĩ lại, cho dù họ muốn biến đổi tôi thành ra một người Tín Đồ Cơ Đốc, nhưng họ cũng chẳng lời được cái gì, vì tôi không có tiền bạc tài sản gì hết.

Tin Nhận Đức Chúa Trời Vào Ngày Lễ Giáng Sinh

Hồi đó sắp tới Lễ Giáng Sinh rồi, một bà cụ trong Hội Thánh nói với tôi rằng: “Nếu cậu có rãnh vào ngày Lễ Giáng Sinh, mời cậu đến nhà tôi dùng trà cùng một lượt với cả gia đình Hội Thánh.”

Sự mời mọc của bà cụ này lại làm cho tôi nghi ngờ lắm. Nhưng lúc đó tôi thường bị đói kém, cho nên mời mọc này thì khó mà từ chối được. Đến ngày Lễ Giáng Sinh, tôi ngẫm nghĩ cả buổi chiều về việc này, tôi có nên đi hay không. Mãi đến thiệt trễ rồi tôi mới quyết định đi. Nhưng tôi đến nhà bà cụ ấy quá trễ, những người khách đang đi về. Tôi thấy ngượng quá, tôi nói với họ rằng: “Xin lỗi, tôi đến trễ quá rồi, tôi cũng đi bây giờ kìa.” Nhưng bà cụ đó cứ mời tôi đi vào nhà, mọi người đều ra về rồi, chỉ còn bà cụ này và một anh em Tín Đồ, Henry Choi.

Henry là người Quảng Đông, anh đã sống ở Thượng Hải nhiều năm rồi. Anh là một nhà hóa học rất tài giỏi, anh đã phát minh nhiều sản phẩm, chẳng hạn như thứ mực và chất hóa học dùng trong chụp ảnh, nhưng hồi đó Trung Quốc không sản xuất được. Khi tôi bắt đầu nói chuyện với Henry, tôi nhận thấy anh này có một phẩm chất thuộc linh rất đặc biệt. Anh bắt đầu nói về Chúa Trời, và Chúa Trời thì rất là chân thật đối với anh. Nhưng tại vì tôi cảm thấy rằng anh này muốn khuyến khích tôi trở thành Tín Đồ của Chúa Giê-su, tôi dần dần nghĩ về chuyện khác và không muốn nghe nữa. Anh này thì cứ nói, mà tôi thì mơ mộng hảo huyền. Bất thình lình tâm hồn tôi nhận thức tội lỗi nặng nề của mình, đó là một việc tôi chưa từng kinh lịch bao giờ. Trong một giây lát, Thánh Linh của Chúa Trời khiển trách lòng kiêu ngạo của tôi. Và Chúa Trời cũng nhắc lại lời tôi đã hẹn với Ngài khi tôi ở trong nhà tù. Sự nhận thức tội lỗi này thì rất mãnh liệt, tôi biết rằng chuyện này là thiệt. Và tôi lại một lần nữa gặp gỡ với Đức Chúa Trời.

Khi Henry còn đang nói nửa chừng, bất thình lình tôi nói rằng: “Ngừng lại!” Anh này ngạc nhiên lắm, và anh hỏi rằng có phải anh đã nói cái gì xúc phạm đến tôi. Tôi nói: “Không, tôi muốn tin nhận Chúa Trời ngay bây giờ! Tôi phải làm gì?”

Anh nói: “Quỳ xuống cùng một lượt với tôi. Chúa Trời là Vua của các vua, và Chúa của các chúa, cho nên anh phải đến trước mặt Ngài một cách khiêm nhường.”

Khi chúng tôi quỳ xuống rồi, tôi hỏi anh này tôi phải làm gì. Anh nói: “Chúng ta sẽ cầu nguyện. Anh hãy cầu nguyện với Chúa Trời từ trong lòng của anh.” Tôi hỏi anh này phải cầu nguyện như thế nào. Anh nói: “Cứ việc kể cho Chúa Trời nghe tất cả những gì trong lòng của anh. Xưng tội của anh và tạ ơn lòng thương xót nhân từ và ơn cứu chuộc của Ngài.” Khi tôi bắt đầu cầu nguyện, tôi cảm thấy cả chỗ đó đều rung động hết. Tất cả mọi vật trong phòng trở nên rất sáng sủa, hình như có người đã rọi đèn pha. Tôi là một người không xúc cảm, nhưng tôi lại nghĩ rằng tại sao mọi vật ở chỗ đó đều rung lên.

Tại chỗ đó, tôi giao phó cuộc đời của mình cho Chúa Trời. Một việc rất quan trọng đã xảy ra cho tôi, cuộc đời của tôi hoàn toàn thay đổi, Chúa Trời đã đến vào đời tôi. Đó là khởi điểm của cuộc đi chung suốt đời cùng với Đức Chúa Trời.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (1)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Tiểu Sử Của Mục Sư Trương Hy Hòa (viết bởi Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền)

Mục sư Trương Hy Hòa là ông thầy của tôi. Chồng tôi và tôi theo học khóa huấn luyện Kinh Thánh của Mục sư từ năm 1989 – 1990. Mục Sư Trương Hy Hòa là người Trung Quốc, sanh ở Thương Hải vào năm 1934. Mục sư nhận biết Đức Chúa Trời vào năm 1953 sau một đợt sự kiện xảy ra trong cuộc đời của ông. Chúa Trời dắt đưa mục sư rời khỏi Trung Quốc vào năm 1956. Ông theo học tại Học Viện Kinh Thánh ở Glasgow, xứ Ê-cốt của nước Anh. Ông tốt nghiệp vào năm 1959. Ông hiệu trưởng của Học Viện Kinh Thánh khuyến khích ông Trương tiếp tục theo đuổi việc học tập Kinh Thánh. Rồi ông Trương đi Luân Đôn học tại Học Viện Kinh Thánh Luân Đôn. Ông Trương tốt nghiệp ở Đại Học Luân Đôn, chương trình Văn Chương và Thần Học.

Đức Chúa Trời hướng dẫn ông Trương đi trông nom một Hội Thánh ở Liverpool. Khi phụng sự ở Liverpool, ông Trương được thụ chức mục sư bởi ông hiệu trưởng của Học Viện Kinh Thánh ở xứ Ê-cốt. Vài năm sau mục sư Trương được mời đi trông nom một Hội Thánh ở Montréal, Canada, Chúa Trời ban phước cho phụng sự  của ông Trương, một Hội Thánh nhỏ của mục sư được phát triển thành ra một nhóm gồm chừng 25 Hội Thánh hôm nay. Qua ân điển của Chúa, các Hội Thánh này tiếp tục trưởng thành dưới quyền phép của Chúa Trời, Chúa Giê-su là Đầu của Hội Thánh.

Sau khi giới thiệu sơ qua tiểu sử của Mục sư Trương, bây giờ ta bắt đầu đi vào bài làm chứng của Mục sư Trương Hy Hòa, sau đây là lời tự thuật của Mục sư Trương.

Tôi Nhận Biết Đức Chúa Trời Như Thế Nào

Có nhiều người hỏi tôi về những kinh lịch của tôi trong Đức Chúa Trời, bởi vậy tôi nhân dịp này kể lại những kinh lịch đó để làm chứng cho Chúa. Hôm nay tôi sẽ nói về hai khía cạnh trong đời sống Tín Đồ Cơ Đốc của tôi: Tôi trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc như thế nào và tôi bắt đầu phụng sự Chúa như thế nào. Mà hai khải cạnh này thì không tách rời nhau được.

Khi các bạn và các anh chị em lắng nghe câu chuyện của tôi, tôi mong rằng quí vị hãy để ý vào những công việc Chúa Trời làm. Tôi sợ rằng khi người ta nghe những câu chuyện làm chứng cho Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su, thì người ta lại để ý vào người kể chuyện thay vì để ý vào Chúa. Nếu quí vị chỉ say mê nghe những kinh lịch đó thì quí vị sẽ không thấy được những sự kiện quan trọng. Nhưng nếu qua những chuyện Chúa Trời đã làm trong đời tôi mà quí vị cảm động và nói rằng: “Nếu Chúa Trời có thể làm những việc này cho ông này, thì Ngài cũng có thể làm những việc này cho tôi vậy.” Nếu quí vị nghe câu chuyện của tôi bằng một thái độ  như vậy thì mới là phải.

Có nhiều người sau khi đọc qua những kinh lịch của sứ đồ Phao-lô thì nói rằng: “Chỉ có những người vĩ đại như sứ đồ Phao-lô vậy mới có thể kinh lịch được Chúa Trời một cách kỳ diệu như thế. Chúa Trời không bao giờ làm những việc này cho tôi như Ngài đã làm cho sứ đồ Phao-lô vậy đâu!” Nếu quí vị nghĩ như vậy thì đọc Kinh Thánh làm chi nữa, bởi vì chẳng có điều gì trong Kinh Thánh có thể áp dụng trong cuộc đời của mình cả. Kinh Thánh sẽ thành ra một quyển sách biên soạn các sự kiện lịch sử của những vĩ nhân như Phao-lô và Ê-li. Nhưng sứ đồ Gia-cơ nói rằng: “Ê-li vốn là người có cùng một bản chất như chúng ta.” (Gia-cơ 5:17) Mà Ê-li này là một trong những tiên tri vĩ đại nhất. Chúa Trời đã nhận lời cầu nguyện của Ê-li trên núi Cạt mên và giáng lửa xuống từ trên trời để thiêu đốt của lễ dâng lên cho Ngài (1 Các Vua 18:38). Quí vị có hề nghĩ rằng không chừng Chúa Trời hy vọng quí vị cũng làm một việc tương tự như vậy chăng? Rốt cuộc Ê-li cũng là một người như chúng ta vậy thôi.

Rất lâu trước khi sự kiện ở Núi Cạt-mên xảy ra, Ê-li đã tuyên bố rằng ở Y-sơ-ra-ên sẽ không có mưa trong vài năm (1 Các Vua 17:1). Đó là một trừng phạt cho Y-sơ-ra-ên vì tội phản nghịch chống lại Chúa Trời. Chúa quả thật dừng mưa ở Y-sơ-ra-ên trong ba năm rưởi, mãi cho đến ngày đáng ghi nhớ trên Núi Cạt-mên (1 Các Vua 18:1, 45). Chúa Trời đã sử dụng một người có cùng một bản chất như chúng ta để đem Y-sơ-ra-ên trở về với Ngài. Nếu quí vị cầu nguyện như Ê-li vậy, Chúa Trời cũng có thể sử dụng quí vị y như thế. Trong thế hệ này, chúng ta rất cần những người biết đi cùng với Chúa Trời và Ngài có thể làm những công việc lớn bởi họ.

Tổ Phụ Tôi Và Ba Tôi

Bây giờ để tôi bắt đầu nói về gia đình tôi. Ông tổ phụ tôi sống ở tỉnh Phúc Kiến, cho dù ông sanh trong một gia đình nghèo khổ, nhưng nhờ sự cố gắng ông vẫn được tốt nghiệp đại học, điều đó là một thành tích vĩ đại ở Trung Quốc hồi đó. Đáng lẽ ông tổ phụ tôi có thể sống một cuộc đời giàu sang, nhưng ông từ bỏ tất cả những chuyện này mà đi truyền giảng Tin Lành, ông trở thành mục sư của Hội Thánh Trưởng Lão. Bởi vì mục sư được trả lương rất ít, cho nên ba đứa con trai và một đứa con gái của ông đều trưởng thành trong một hoàn cảnh nghèo khổ.

Cả ba đứa con trai của ông đều thông minh học giỏi, người xuất sắc nhất là ba tôi, Trương Thiên Trạch, con trai trưởng của ông. Cho dù ba tôi sanh ra và trưởng thành tại một gia đình Tín Đồ Cơ Đốc, ba tôi không tin ở Chúa Giê-su cả, ba tôi cũng không thích những chuyện thuộc linh. Ba tôi đã chán ngắt cuộc sống nghèo khổ lắm rồi, và ba quyết định theo đuổi một cuộc sống tốt hơn. Ba được nhận vào trường Đại Học Bắc Kinh miễn thi nhập học bởi vì điểm trung bình của ba là 97%. Khi ba tốt nghiệp ra trường Đại Học, thì ba phá kỷ lục điểm trung bình cao nhất của nhà trường. Rồi ba được gởi đi học bằng cấp thạc sĩ tại Đại Học Harvard ở bên Mỹ, và ba đã hoàn thành bằng cấp đó trong 9 tháng trời. Ba thấy rằng trường Đại Học Harvard không bằng những trường đại học ở Âu Châu, cho nên ba lại đi Âu Châu để tiếp tục theo học bằng cấp tiến sĩ.

Trí nhớ của ba rất hay, và ba có khả năng đặc biệt về ngôn ngữ. Ba học ngôn ngữ là để học chơi thôi. Ba học tiếng Pháp chỉ 3 tháng thôi mà ba có thể nói tiếng Pháp rất lưu loát đến nỗi người ta tưởng rằng ba đã tốt nghiệp tại một đại học Pháp, nhưng thực ra ba theo học tại Đại Học Sorbonne ở Paris chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thôi. Ba quyết định đi học tiếng Đức nữa, cho nên ba đi học tại Đại Học Heidelberg trong 3 tháng trời. Sau ba tháng, ba có thể nói tiếng Đức rất hay. Ba trở nên càng ngày càng kiêu ngạo và tự tin vào khả năng của mình. Bất cứ ba học ở trường nào, cho dù là Đại Học Harvard hay là tại Âu Châu, ba lần lượt nhận được một học bổng này sang một học bổng khác. Thực ra ba nhận được tiền học bổng nhiều đến nỗi ba có thể nuôi nấng hai em trai của ba vào đại học, và ba vẫn còn tiền dư lại để đi du lịch nước Mỹ bằng vé máy bay hạng nhất. Ba đã làm quen với một cuộc sống giàu có và thoải mải.

Thời Kỳ Thiếu Niên Ở Trung Quốc

Đó là gia đình tôi vậy. Thông minh tài năng của ba tôi đã tạo nên một hoàn cảnh tốt cho tôi để trau dồi học vấn, tôi là con một của ba tôi. Ba thích dùng trí óc để tìm hiểu và học hỏi, mà ba cũng yêu nước lắm. Điều mơ tưởng của ba là đem Trung Quốc ra khỏi tình trạng lạc hậu bảo thủ, khiến Trung Quốc trở nên hùng mạnh, hiện đại hóa, một Trung Quốc mới. Ba theo học Kinh Tế Học, bởi vì ba nghĩ rằng muốn xây dựng lại Trung Quốc thì phải bắt đầu bằng kinh tế, rồi sau đó mới là quân sự. Ba nghĩ rằng muốn xây dựng một nước cường thịnh và tân tiến thì cần phải có một nền tảng kinh tế vững mạnh.

Ba tôi cũng dạy dỗ tôi trở nên một người yêu nước lắm. Ba hay kể cho tôi nghe lịch sử vinh hiển của Trung Quốc trong thời cổ xưa. Ba đã gieo mối chống chủ nghĩa đế quốc và chống chủ nghĩa thực dân trong lòng tôi. Ba tức giận các nước ngoài đã nhân dịp Trung Quốc yếu đuối để cướp bốc và làm nhục Trung Quốc bằng những hiệp ước bất bình đẳng. Bởi vậy tôi trở nên rất thù nghịch người Tây Phương. Vì tôi trưởng thành tại Thượng Hải, tâm tình thù nghịch của tôi trở nên càng mãnh liệt hơn khi tôi thấy Thượng Hải bị chia làm nhiều khu vực cai tri của các nước ngoài: Nhượng địa cho Pháp, nhượng địa cho Anh, nhượng địa cho Nhật Bổn v.v. Không chừng quí vị từng thấy bức ảnh của một cái bảng đặt tại cổng vào của một công viên biên rằng: “Chó và người Trung Quốc cấm vào.” Ở đâu cũng có quân lính ngoại quốc cả. Có một lần tôi thấy một người lính Anh Quốc đá và đánh đập một người thợ may Trung Quốc. Tôi tự nhủ trong lòng tôi rằng: “Tụi bay hãy chờ coi, một ngày nào đó tôi sẽ dạy tụi bay một bài học.”

Tôi cũng yêu nước như ba tôi vậy, nhưng chí hướng của tôi thì khác với chí hướng của ba tôi. Ba thì nhấn mạnh về thiết lập một nền tảng kinh tế vững vàng, nhưng tôi thì nhấn mạnh về thiết lập một quân đội hùng mạnh. Tôi dùng tất cả tiền tiêu vặt của tôi để mua sách về khoa học quân sự. Tôi nghiên cứu cuộc đời của Chu Cách Lượng trong chuyện “Tam Quốc Chí” và tôi hâm mộ ông này lắm.

Tôi theo học võ thuật bởi vì tôi nghĩ rằng rèn luyện thân thể mạnh mẽ để nêu gương cho người khác là  quan  trọng lắm. Qua sự huấn luyện về võ Giu-đô và quyền thuật Anh, thân thể tôi trở nên rất vạm vỡ. Tôi luyện tập nhiều cuộc thể thao để trau dồi thân thể. Để đạt được tài năng lãnh đạo, một mình tôi tổ chức và huấn luyện một đội bóng chày. Hồi đó tôi không biết gì về bóng chày cả, tôi tìm được một quyển sách về bóng chày và tôi tự học kỹ thuật của cuộc thể thao này. Rồi tôi huấn luyện một vài con trai không biết gì về bóng chày cả. Trong vòng hai năm chúng tôi đã chơi trong đội hạng “A” và thách thử đội xuất sắc nhất ở Thượng Hải. Bí mật của chúng tôi là gì? Đó là thái độ hiến dâng và tinh thần đồng đội.

Tôi tự trau dồi con người tôi không những về thể chất và trí tuệ, mà còn về phương diện thuộc linh nữa. Tôi để ý rằng Chu Cách Lượng và những anh hùng của Trung Quốc thời xưa thì rất giỏi về thiên văn học và chiêm tinh học. Họ có thể nhìn vào những ngôi sao trên trời mà dự đoán những việc trong tương lai một cách chính xác. Bởi vậy tôi quyết định cũng đi nghiên cứu các ngôi sao. Có một lần tôi tìm được một quyển sách về chiêm tinh học, trong đó dự đoán rằng nước Mỹ sẽ tham dự vào một cuộc chiến tranh lớn vào cuối năm 1941. Rồi tôi thấy quyển sách này in vào năm 1935! Tôi rất kinh ngạc về tầm chính xác như vậy, cho nên tôi nghiên cứu quyển sách này rất kỹ lưỡng. Tôi học được rất nhiều về chiêm tinh học đến nỗi tôi có thể nhìn vào bộ mặt của một người và nói ra được người này sanh vào tháng nào. Người ta rất ngạc nhiên vì tôi có thể nói ra những chuyện của người khác và nhiều sự kiện khác nhau. Cho nên tôi biết rằng chiêm tinh học cũng khá linh nghiệm. Có những thầy bói chỉ là lừa gạt người ta bằng kỹ thuật giả, nhưng cũng có những người thật sự biết rất nhiều về chiêm tinh học. Lẽ dĩ nhiên tôi đã từ bỏ cái nghề này khi tôi trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc, bởi vì Kinh Thánh cảnh cáo chúng ta rằng đừng chơi bời những việc liên quan đến thuyết thông linh.

Tôi thấy tôi ngủ nhiều quá, cho nên tôi giảm bớt thời gian đi ngủ để có nhiều thì giờ học tập khoa học quân sự. Quí vị thấy tôi là một con người như thế nào, quả quyết và có kỷ luật. Qua sự huấn luyện về trí óc và thể chất, cộng thêm kiến thức về chiêm tinh học, tôi đang sửa soạn cuộc đời của mình để đạt được chí hướng của tôi.

Nhưng tôi lại trở nên càng ngày càng chống đối Tín Đồ Cơ Đốc, một phần là vì ba tôi đã kể cho tôi nghe những chuyện các chính phủ ngoại quốc đã làm ở Trung Quốc. Ba tôi nói rằng có nhiều người truyền giáo đến Trung Quốc dưới chiêu bài công việc truyền giáo, nhưng thực ra họ là người trinh sát sai đi bởi các chính phủ ngoại quốc để thăm dò những khu vực ở Trung Quốc và để thu thập tài liệu về tình trạng quân sự và kinh tế ở Trung Quốc.

Trong những năm nội chiến, ba tôi lãnh một chức vụ rất cao trong chính phủ ở Nam Kinh. Trung tâm hành chánh của ba tôi ở Nam Kinh thì hình như là một vương quốc nhỏ. Trung tâm này có quân lính riêng biệt canh giữ, có hành lũy bao vây xung quanh và có máy phát điện riêng. Có vài đội quân lính và hai thiếu tướng chỉ huy quân lính dưới quyền của ba. Tôi trưởng thành trong một hoàn cảnh tôi được hưởng thụ quyền lợi hầu như không hạn chế. Tuy rằng tôi chỉ mười mấy tuổi thôi, nhưng quân lính phải chào tôi mỗi khi tôi đi qua, và những nhân viên chính phủ phải đón tiếp tôi. Nếu tôi muốn đi từ Thượng Hải đến Nam Kinh, những nhân viên cao cấp sẽ đến nhà tôi ở Thượng Hải để đưa tôi đi trạm xe lửa bằng xe hòm của chính phủ. Khi tôi đến Nam Kinh rồi, thì một nhóm nhân viên khác sẽ hộ tống tôi đến văn phòng của ba tôi. Cái đặc quyền và quyền lực mà tôi được hưởng đã gây một ảnh hưởng rất xấu cho một người trẻ tuổi như tôi vậy.

Rồi cuộc nội chiến giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Công Sản ngày càng mãnh liệt. Quốc Dân Đảng đã lần lượt thua nhiều trận chiến, Đảng Cộng Sản đang tiến vào miền Nam. Ba tôi phải lập quyết định là đánh hay rút lui. Lúc đó ba tôi đã chán ghét sự tham nhũng lan tràn trong Quốc Dân Đảng. Một phần lớn của quân đội của Quốc Dân Đảng là bán độc lập, họ không chịu sự điều khiển của chính phủ trung ương, và nhiều người lạm dụng cái đặc tính bán độc lập này. Ba tôi đã chán ngắt sự tham nhũng đầy dẫy ở Trung Quốc. Và ba tôi chống cự lại sự tham nhũng, cho nên đã gây nên tranh chấp với những nhân viên chính phủ. Khi chỉ đạo viên của ba là Vương Vân Ngũ từ chức, ba tôi cũng nhân dịp đó từ chức cùng một lượt với vài nhân viên khác. Sau khi ba tôi từ chức rồi, chẳng bao lâu thì Đảng Cộng Sản đến Thượng Hải.

Sau Khi Đảng Cộng Sản Giải Phóng Trung Quốc

Đảng viên của Quốc Dân Đảng chạy trốn tan tành khi Đảng Cộng Sản đến, nhưng ba tôi không muốn đi. Ba tôi nói rằng: “Lý lịch của tôi là hoàn toàn trong sạch. Tôi không có làm việc gì chống lại nhà nước của tôi cả. Tôi không có làm việc gì xấu xa hết. Tôi đã đánh giặc Nhật Bổn. Tôi đã phụng sự nhà nước tôi. Nếu mà Đảng Cộng Sản muốn giết tôi thì để họ giết cho, nhưng họ phải nói cho tôi biết tôi đã phạm tội gì.” Quả nhiên, khi Đảng Cộng Sản vào Thượng Hải, họ không quấy rầy chúng tôi bao giờ. Ngày nào ngày nấy cũng có người bị giết đi, nhưng họ cứ để chúng tôi sống yên ổn, bởi vì sở chỉ huy của Đảng Cộng Sản đã nhận được một báo cáo tốt về ba tôi. Họ thấy lý lịch của ba hoàn toàn trong sạch, ba không hề làm việc gì chống lại nhà nước hay là chống lại Đảng Cộng Sản.

Sau này họ muốn mời ba tôi lãnh một chức vụ trong chính phủ, nhưng ba từ chối. Rồi sau đó họ lại mời ba tôi đi dạy ở Đại Học Bắc Kinh, nhưng một lần nữa ba lại từ chối. Nhưng bất cứ tình hình ra sao, ba tôi quyết định ở lại Trung Quốc để coi bằng chính mắt của mình Đảng Cộng Sản sẽ xây dựng nước Trung Quốc mới như thế nào. Cho nên cả gia đình ở lại Trung Quốc. Năm 1952 má tôi phải rời khỏi Trung Quốc vì mắc bịnh lao phổi. Sau cùng ba tôi quyết định rời khỏi Trung Quốc, nhưng họ không cho ba đi. Rồi ba tìm được một cơ hội rời khỏi Trung Quốc vào năm 1953. Cho nên tôi ở lại Trung Quốc một mình, không tiền bạc, không tài sản gì hết. Giấc mơ tưởng xây dựng một Trung Quốc mới của tôi đi đâu rồi?

Tôi phải quyết định nên làm gì cho tương lai của mình mới phải. Đảng Cộng Sản đã thống trị cả nước Trung Quốc rồi, mà tôi sẽ làm gì trong đời tôi sau này? Một là đi theo Đảng Cộng Sản và làm việc phụng sự cho họ suốt đời. Tôi có thể gia nhập quân đội và tôi sẽ được thăng chức rất nhanh. Bởi vì tôi đã học xong chương trình trung học, nếu tôi gia nhập quân đội thì tôi có hạng sĩ quan ngay lập tức. Thực ra tôi có thể gia nhập quân đội của Đảng Cộng Sản để  thành tựu được một phần của mộng tưởng của tôi.

Nhưng tôi không muốn giả bộ. Trừ phi một người thực sự tin tưởng vào chủ nghĩa Cộng Sản, bằng không người đó không thể trở thành một đảng viên Cộng Sản chân chính. Dù thế nào đi nữa, tôi cảm thấy rằng tôi nên tìm hiểu về lý thuyết của chủ nghĩa Cộng Sản để biết rõ hơn, cho nên tôi bắt đầu đọc sách về Duy Vật Biện Chứng Pháp và những sách về lịch sử của Đảng Cộng Sản. Tôi đã biết sơ sơ về khoa học quân sự, tôi thấy lịch sử của Đảng Cộng Sản Trung Quốc rất hấp dẫn, nhất là những chiến lược và chiến thuật lỗi lạc của Mao chủ tịch.

Bài Làm Chứng Của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền (5)

Một Năm Truyển Giảng Tin Lành ở Philippines

Bản in PDF

Chúa Trời Ban Tặng Quyển Kinh Thánh

Vào năm 1993 sau khi phụng sự Chúa Trời ở Singapore (tức là Tân-gia-ba) được hai năm rồi, chồng tôi và tôi cùng một người anh em Tín Đồ khác cũng là đầy tớ của Chúa, ba người cùng nhau đi truyền giảng Tin Lành ở Philippines (tức là Phi-luật-tân). Khi rời Singapore chúng tôi không thể đem theo tất cả sách vở, chúng tôi đành phải để lại một số ở Singapore. Trong những sách vở đó thì có một quyển Kinh Thánh cỡ lớn của tôi, tôi rất yêu quí quyển Kinh Thánh này, nhưng chúng tôi chỉ có thể đem theo quyển Kinh Thánh nhỏ thôi, còn quyển Kinh Thánh lớn này tôi phải tặng cho người khác.

Sau khi chúng tôi đến Philippines rồi, chúng tôi tổ chức một vài lớp học tập Kinh Thánh, hàng tuần chúng tôi đi dự buổi lễ thờ phượng tại một Hội Thánh. Chúng tôi thay phiên nhau giảng dạy lớp học tập Kinh Thánh, công việc rất bận rộn. Mỗi khi tôi sửa soạn bài giảng dạy Kinh Thánh, thì tôi lại nhớ đến quyển Kinh Thánh lớn của tôi. Quyển Kinh Thánh nhỏ của tôi thì không bằng quyển Kinh Thánh lớn, tôi ước gì tôi có quyển Kinh Thánh lớn kia. Nhưng tôi lại tự nhủ rằng mình đã từ bỏ bao nhiêu hưởng thụ địa vị trên đời này để đi truyền giảng Tin Lành của Chúa Trời, tại sao bây giờ lại cứ nhớ mãi một quyển Kinh Thánh ư? Tôi tự nhủ rằng cứ hết lòng hết sức mà hầu việc Chúa Trời và đừng có nghĩ đến quyển Kinh Thánh kia nữa.

Tiếp tục đọc

Bài Làm Chứng Của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền (4)

Chúng Tôi Bắt Đầu Truyền Giảng Tin Lành

Làm sự công nghĩa, yêu mến lòng nhân từ và khiêm nhường bước đi với Chúa Trời ngươi
Làm sự công nghĩa, yêu mến lòng nhân từ và khiêm nhường bước đi với Chúa Trời ngươi

Bản in PDF

Tôi tên là Châu Huệ Hiền, trong mấy kỳ vừa rồi tôi đã kể cho quí vị nghe câu chuyện tôi nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su, và sau khi trở thành Tín Đồ Cơ Đốc rồi tôi tiếp tục kinh lịch sự hướng dẫn giúp đỡ của Đức Chúa Trời càng kỳ diệu hơn. Vào đầu năm 1989 chồng tôi và tôi rời khỏi Canada đi truyền giảng Tin Lành ở các nước Á Châu. Hôm nay tôi sẽ kể tiếp cho quí vị nghe những chuyện tôi đã kinh lịch được trong những năm hầu việc Chúa Trời truyền giảng Tin Lành.

Khóa Huấn Luyện Kinh Thánh Hai Năm Ở Hong Kong

Đầu năm 1989 chúng tôi rời khỏi Canada, chúng tôi theo học khóa huấn luyện Kinh Thánh ở Hong Kong trong hai năm trời, đồng thời chúng tôi cũng thực tập phụng sự tại một Hội Thánh. Chúng tôi và các bạn học cùng lớp cùng nhau phụ trách giảng dạy các lớp học tập Kinh Thánh, và vào buổi lễ thờ phượng Chúa Nhật chúng tôi cũng phụ trách giảng luận và làm các công việc khác nữa. Một lần nữa tôi lại ở trong ban phiên dịch chăm lo việc phiên dịch lời giảng luận, ngoài ra tôi còn tự nguyện tham gia vào việc chăm sóc các đứa bé.

Nhiều người dắt theo đứa bé đến nhà thờ. Tại vì sợ mấy đứa bé khuấy rầy buổi thờ phượng, chúng tôi tổ chức các lớp học Kinh Thánh cho các đứa bé từ ba bốn tuổi trở lên, còn các đứa bé từ ba tuổi trở xuống thì được đặt trong phòng giữ trẻ của Hội Thánh. Như vậy thì ba má của đứa bé có thể yên tâm thờ phượng Chúa Trời lắng nghe mục sư giảng luận, và đồng thời mấy đứa bé cũng có thể học tập lời dạy của Chúa Trời ngay từ lúc còn bé.

Thông thường công việc giảng dạy lớp Kinh Thánh và trông nom mấy đứa bé là do các chị em Tín Đồ phụ trách. Đáng lẽ tôi không cần phải giảng dạy hay trông nom đứa bé nữa tại vì tôi đã lãnh công việc phiên dịch giảng luận rồi, nhưng tôi tự nguyện xin dự phần trong công việc này. Tôi hoàn toàn không hiểu biết công việc trông nom hay giảng dạy cho đứa bé. Hồi nhỏ tôi là con út trong gia đình, tôi không có em, cho nên tôi chưa hề trông nom đứa bé bao giờ. Rồi sau khi chồng tôi và tôi kết hôn, chúng tôi không có con cái, bởi vậy từ nhỏ đến giờ tôi chưa hề trông nom đứa bé. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu tôi muốn phụng sự Chúa Trời một cách hữu hiệu, thì chẳng những tôi cần phải giảng giải lời dạy của Chúa Trời một cách rõ ràng chính xác, đồng thời tôi cũng phải làm nhiều công việc khác chẳng hạn như an ủi giúp đỡ các anh chị em Tín Đồ và các bạn chưa tin vào Chúa, và kể cả việc trông nom những đứa bé trong buổi thờ phượng nữa. Tôi không thể tránh khỏi trách nhiệm của tôi. Bởi vậy cho dù tôi không có kinh nghiệm trong việc trông nom giảng dạy đứa bé, tôi tự nguyện gia nhập làm công việc này, tôi quyết tâm ráng học hỏi trau dồi.

Tôi cùng vài chị em thay phiên nhau giảng dạy và trông nom đứa bé vào buổi thờ phượng Chúa Nhật. Cho dù tôi quyết tâm rèn luyện học hỏi công việc này, nhưng lòng tôi rất lo sợ. Rồi một Chúa Nhật tôi phải trông nom những đứa bé rất nhỏ, mà hôm đó có hai vợ chồng đến Hội Thánh, họ đem theo một đứa bé mới sanh ra mấy tháng. Đứa bé này không chịu để ai ẵm cả, nó chỉ muốn mẹ nó thôi. Mẹ của đứa bé này vì thương con lành chịu đi qua phòng giữ trẻ kế bên để trông nom con mình mà không nghe mục sự giảng luận nữa. Tôi liền khuyên chị này hãy ở lại lắng nghe giảng luận và giao đứa bé cho tôi để tôi trông nom thử coi, nếu đứa bé khóc lóc không chịu thì lúc đó chị mới đến lấy lại đứa bé của mình. Chị này cũng bằng lòng, và tôi vội vàng đẩy chiếc xe trẻ con qua phòng khác. Rồi buổi lễ thờ phượng bắt đầu. Đứa bé này cứ nhìn vào mặt tôi, nhưng nó không có khóc. Rồi sau một hồi, chắc nó thấy chán quá, nó bắt đầu khóc lên. Tôi vội vàng đóng lại cánh cửa phòng để cho tiếng khóc không vang ra ngoài, rồi tôi đẩy chiếc xe đi tới đi lui, miệng tôi thì ca những bài ca trẻ con, nhưng trong lòng tôi thì sợ quá, tôi sợ rằng nó khóc ầm lên mà khuấy rầy cả buổi thờ phượng, và mẹ nó sẽ bỏ chạy qua bên này liền. Tôi liền kêu cầu Đức Cha, tôi cầu xin Cha giúp tôi làm tròn việc này để cho đứa bé này im lặng đi. Kỳ diệu thay! Đứa bé không khóc cũng không la, nó từ từ im lại. Rồi sau một hai phút, nó im lặng hết. Tôi nhìn vào mặt nó, thì nó đã ngủ rồi! Cảm tạ Chúa Cha trên trời, đứa bé ngủ ngon quá, nó ngủ hơn một tiếng đồng hồ. Sau khi buổi thờ phượng kết thúc, khi mẹ nó đến thì nó vẫn còn đang ngủ chưa dậy. Mẹ nó mừng quá không ngừng cảm tạ tôi và khen tôi giữ đứa bé khéo léo ghê! Tôi nói với chị này rằng: “Chị hãy cảm tạ Chúa Trời! Em không biết gì hết, cái này là hoàn toàn do việc làm của Chúa!”

Sau sự kiện này tôi không còn lo sợ công việc trông nom đứa bé nữa, tại vì tôi biết Đức Chúa Trời luôn luôn ở bên cạnh giúp đỡ tôi. Bất luận tôi giảng dạy Kinh Thánh hay rửa chén nấu cơm cho Hội Thánh hay trông nom đứa bé, bất cứ tôi làm việc gì Chúa Cha đều trợ giúp tôi, Ngài ban cho tôi trí tuệ và lực lượng, chẳng có việc gì là quá nhỏ mọn mà Ngài không muốn đếm xỉa tới. Tôi biết rằng bất cứ tôi làm công việc gì, miễn là tôi hết lòng hết sức mà làm, thì hẳn sẽ làm đẹp lòng Chúa Cha rất nhiều, và Ngài sẽ ở bên cạnh tôi trợ giúp tôi vậy!

Tiếp tục đọc

Bài Làm Chứng Của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền (3)

 Những Chuyện Tôi Kinh Lịch Khi Tôi Làm Việc Ở Toronto

Làm sự công nghĩa, yêu mến lòng nhân từ và khiêm nhường bước đi với Chúa Trời ngươi
Làm sự công nghĩa, yêu mến lòng nhân từ và khiêm nhường bước đi với Chúa Trời ngươi

Bản in PDF

Tôi tên là Châu Huệ Hiền. Trong hai kỳ vừa rồi, tôi đã kể cho quí vị nghe câu chuyện tôi trở thành một người Tín Đồ của Chúa Giê-su. Hôm nay tôi sẽ kể tiếp cho quí vị nghe sau khi tôi trở thành Tín Đồ Cơ Đốc rồi, tôi lại tiếp tục kinh lịch sự hướng dẫn giúp đỡ của Chúa Trời ra sao.

Kinh Lịch Đầu Tiên: Làm Y Như Chúa Trời Dạy Bảo

Trước khi chồng tôi và tôi đi truyền giảng Tin Lành của Chúa Trời, chúng tôi làm việc ở thành phố Toronto của Canada. Tôi làm việc trong một công ty bảo hiểm. Mỗi ngày những nhân viên trong cùng một nhóm thường đi ăn cơm trưa cùng một lượt. Có một vài người trong nhóm tôi hay thì thầm với nhau những chuyện tầm phào, nhiều lúc họ nói xấu đả kích người này người nọ. Hành vi ăn nói như vậy là trái với lời dạy của Chúa Trời, nhưng mỗi buổi trưa tôi lại phải ngồi cùng với họ và nghe những lời tầm phào đả kích này. Tôi cảm thấy bực tức khó chịu lắm, nhưng tôi không có quyền chỉ trích họ bởi vì họ không phải là Tín Đồ của Chúa Giê-su, họ không nhận thấy làm như vậy là tội lỗi sai lầm. Bởi vậy tôi cứ giữ im lặng không nói gì cả. Một hôm chúng tôi đang ăn trưa, họ lại nói xấu đả kích người này người kia, tôi cứ cúi đầu ăn mau mau cho xong để có thể rời bàn ăn sớm hơn. Rồi bất thình lình một trong những bạn đó hỏi tôi, “Chị nghĩ sao về người kia? Chị có cảm nghĩ gì về người kia?” Kỳ này tôi muốn giữ im lặng cũng không được, tôi không muốn chỉ trích họ bởi vì họ thực sự không hiểu, nhưng tôi cũng không muốn tham gia vào cuộc nói chuyện tầm phào của họ. Tôi cầu xin Chúa Trời chỉ dẫn tôi nên trả lời ra sao, ngay lập tức Thánh Linh của Chúa Trời bảo tôi rằng: “Con cứ nói thiệt đi!” Tôi cứ cúi đầu xuống, bởi vì tôi không muốn nhìn vào mặt của họ để chỉ trích họ, tôi ráng hết sức nói bằng một giọng nói rất mềm mại rằng: “Xin lỗi, tôi không thích nói về những chuyện này!” Bỗng nhiên mọi người trên bàn đều im lặng cả, rồi sau đó mọi người cứ cúi đầu ăn cơm, không ai nói tiếp những chuyện tầm phào nữa. Tôi rất ngạc nhiên về hiệu quả của câu nói mềm mại của tôi, tôi còn tưởng rằng sau khi họ nghe tôi nói một câu như thế thì họ chắc cười nhạo chê bai tôi. Tôi không ngờ một câu nói ngắn gọn và mềm mại như thế lại đạt được hiệu quả tốt như vậy.

Qua câu chuyện nho nhỏ này cho ta thấy rằng khi chúng ta hết lòng tuân theo lời dạy của Chúa Trời, và chúng ta luôn luôn tìm cầu ý chỉ hướng dẫn của Ngài, Chúa chỉ bảo ta làm điều gì thì ta cứ làm y như Ngài dặn, như vậy thì hành vi lời nói của ta sẽ mang theo lực lượng quyền năng của Chúa, và chính là lực lượng quyền năng của Ngài làm việc trong lòng của người khác để thành tựu công việc theo đúng ý chỉ của Ngài.

Tiếp tục đọc

Bài Làm Chứng Của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền (2)

Năm Sự Kiện Tôi Kinh Lịch

Làm sự công nghĩa, yêu mến lòng nhân từ và khiêm nhường bước đi với Chúa Trời ngươi

Bản in PDF

Bắt đầu từ đầu năm 1983, có năm sự kiện xảy ra. Qua năm sự kiện này, Chúa mở mắt của tôi ra để thấy rõ Chúa thương tôi và gia đình tôi biết bao!

Sự Kiện Đầu Tiên

Sự kiện đầu tiên là như vậy: Vào đầu năm 1983, tôi nhận được một bức thư ba tôi gởi từ Việt Nam. Ba nói rằng ba mắc bịnh cần tiền, ba bảo tôi gởi tiền về cho ba. Khi tôi nhận được thư rồi, tôi lo cho ba lắm, tôi bèn gởi 200 đô-la Canada về cho ba. Đối với tôi, hai trăm đô-la là một món tiền rất lớn. Bởi vì mỗi năm tôi chỉ nhận được 4000 đô-la tiền trợ cấp của chính phủ. Học phí đại học là một ngàn rồi, còn ba ngàn kia là để mua sách vở và tiền ăn ở chi phí trong tám tháng; như vậy có nghĩa là mỗi tháng tôi chỉ có khoảng 3000 đô-la tiền ăn ở chi tiêu thôi. Khi nghỉ hè thì tôi đi làm để kiếm thêm tiền. Còn trong kỳ học thì tôi không đi làm gì cả, mà chỉ tập trung vào việc học. Hồi đó tôi đang học năm thứ hai đại học, chương trình khoa học máy tính điển tử (tiếng Anh là Computer Science). Tôi rất bận rộn, hồi đó tiếng Anh của tôi vẫn còn dở, bởi vậy tôi học cực hơn các bạn khác trong lớp. Tôi không có thì giờ đi làm.

Vì thương ba, khi tôi hay rằng ba mắc bịnh, cho dù tôi cũng rất nghèo, tôi vẫn gởi 200 đô-la về cho ba. Hồi đó thủ tục gởi tiền về Việt Nam rất là phức tạp. Tôi không thể gởi tiền về nhà tôi trực tiếp, mà tôi phải đi Ngân Hàng Hoàng Gia (Royal Bank) ở Canada để mua một ngân phiếu 200 đô-la, và tôi phải cho ngân hàng biết tên và địa chỉ của ba tôi. Rồi ngân hàng sẽ gởi ngân phiếu đó cùng địa chỉ ba tôi đến Ngân Hàng Quốc Gia tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi Ngân Hàng Quốc Gia ở Việt Nam nhận được ngân phiếu và địa chỉ rồi, thì họ sẽ căn cứ vào địa chỉ đó mà thông báo cho ba tôi hay, rồi ba tôi có thể đi lãnh tiền. Khi ba tôi lãnh tiền thì là tiền Việt Nam tương đương với số tiền đô-la Canada. Trước kia tôi đã từng gởi tiền về bằng cách này một vài lần, và lần nào ba cũng nhận được tiền rất nhanh. Tôi biết rằng phương pháp này là an toàn lắm, tôi không muốn gởi tiền qua tay của chợ đen.

Nhưng cỡ chừng một tháng sau, tôi lại nhận được một bức thư của ba tôi. Trong thư đó ba nói rằng ba vẫn  chưa nhận được tiền.  Khi tôi đọc thư này, tôi hoảng sợ, tôi biết rằng kỳ này có gì lầm lẫn rồi. Tôi bèn lấy biên lai của Ngân Hàng Hoàng Gia ra coi, thì tôi thấy rằng tôi đã phạm một lỗi lầm rất lớn. Tôi đã ghi tên ba tôi, tên đường, tên thành phố và tên quốc gia rất rõ ràng, nhưng tôi lại quên ghi số nhà tôi. Bởi vậy món tiền đó đã đến Ngân Hàng Quốc Gia của Thành Phố Hồ Chí Minh rồi, nhưng không cách nào thông báo cho ba tôi được, vì không có số nhà!

Khi tôi thấy vậy, tôi rất là sợ hãi, lo lắng, món tiền của tôi đi đâu rồi? Tại sao tôi lại phạm lỗi lầm như vậy? Ba tôi mắc bịnh, ba cần món tiền đó! Và tôi đâu có kiếm được 200 đô-la nữa để gởi về cho ba!  Tôi khóc thê thảm! Không có ai an ủi tôi, không có ai giúp được tôi cả. Lúc đó bỗng nhiên tôi nhớ đến Đức Chúa Trời! Tôi nhớ rằng tôi có thể cầu xin Chúa Trời giúp tôi, tôi có thể nói cho Chúa nghe tất cả những lo lắng sợ hãi trong lòng tôi cũng như trước kia khi tôi không tìm được việc, tôi đến trước mặt Chúa Trời cầu xin Chúa, và Chúa đã nhận lời cầu nguyện của tôi và giúp đỡ chỉ dẫn tôi vậy.

Tôi bèn ngay lập tức cầu xin Chúa Trời, tôi nói với Chúa rằng: “Con biết Chúa là Đấng toàn năng, có mọi quyền lực, con bây giờ lo sợ lắm, con không biết làm gì mới phải, con chỉ cầu xin Chúa cho ba của con lãnh được món tiền đó, vì ba của con cần món tiền để chữa bịnh!” Sau khi tôi cầu nguyện như vậy, kỳ lạ biết bao! Bỗng nhiễn sự lo lắng sợ hãi trong lòng tôi tiêu tan hết, tôi cảm thấy rất bình yên, vui vẻ. Chúa Trời đã nhận lời cầu nguyện của tôi, và Chúa ngay lập tức an ủi tôi, Chúa ban cho tôi được bình yên trong lòng.

Sau đó tôi gởi bản in chụp (tức là photocopy) của biên lai của Ngân Hàng Hoàng Gia về cho ba tôi. Tôi bảo ba tôi hãy cầm tờ in chụp này đến Ngân Hàng Quốc Gia mà tra hỏi, vì trên đó có tên của ba, tên đường và tên thành phố của địa chỉ nhà, tuy không có số nhà, rồi để coi coi Ngân Hàng Quốc Gia có chịu nhận không.

Cỡ chừng một tháng sau, tôi lại nhận được một bức thư khác của ba. Trong thư này, ba nói rằng ba đã nhận được tiền rồi. Kỳ diệu thay! Chúa Trời đã giúp tôi và ba tôi! Ân điển của Chúa thiệt là lớn lao!

Tiếp tục đọc

Bài Làm Chứng Của Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền (1)

Bốn Năm Đầu Tiên Ở Canada

Làm sự công nghĩa, yêu mến lòng nhân từ và khiêm nhường bước đi với Chúa Trời ngươi

Bản in PDF

Những Ngày Tháng Tôi Vừa Đến Ottawa, Canada

Tôi tên là Châu Huệ Hiền. Hôm nay tôi sẽ trình bày cho các bạn câu chuyện tôi nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su. Tôi mong rằng qua câu chuyện này, các bạn sẽ thấy được sự chân thật của Chúa Trời và lòng nhân từ thương xót của Ngài.

Tôi sanh ở quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh. Tôi học tại trường trung học Hưng Đạo. Gia đình tôi theo Đạo Phật và thờ cúng ông bà tổ tiên, nhưng hồi đó tôi thì không theo một tôn giáo nào cả. Tôi là một trong những người rời Việt Nam vào năm 1978. Tôi cùng một nhóm người Việt Nam đến Canada vào tháng 7 năm 1979. Hồi đó tôi chỉ biết rất ít tiếng Anh, tôi chỉ biết nói: “Hello, how are you? Fine, thank you,” có nghĩa là “Chào, anh mạnh giỏi không? Mạnh giỏi, cám ơn.”

Chính phủ Canada trông nom nhóm người Việt Nam mình rất kỹ lưỡng. Chính phủ cho tôi ở tại thành phố Ottawa, thủ đô của Canada. Tôi ở tạm trong một khách sạn. Bởi vì số người Việt Nam đến quá đông, chính phủ không có đủ người để trông nom chúng tôi, chính phủ bèn kêu gọi các Tín Đồ Cơ Đốc ra giúp đỡ.

Một hôm có vài Tín Đồ Cơ Đốc đến khách sạn thăm tôi. Họ giúp tôi rất nhiều, vì hồi đó tôi không biết nói tiếng Anh, tôi phải nhờ họ phiên dịch cho tôi. Họ giúp tôi thuê được một buồng. Rồi chừng một tháng sau, tôi dời vào chỗ ở mới. Tôi ở chung với ba cô gái khác.

Sau đó chính phủ cho chúng tôi đi học tiếng Anh, và những Tín Đồ Cơ Đốc cũng đến mời chúng tôi đi dự lễ nhà thờ. Hồi đó tôi không tin ở Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su cả, nhưng tại vì những bạn đó đã giúp tôi rất nhiều, tôi thấy khó mà từ chối họ. Bởi vậy khi tôi không quá bận, đôi khi tôi cũng đi dự lễ nhà thờ. Nhưng mỗi khi tôi bận việc, thì tôi lại ngưng đi dự lễ.

Sau khi tôi học tiếng Anh được hai tháng rồi, thì tôi phải đi tìm việc làm. Chính phủ Canada giúp tôi tìm được việc tại một công ty điện tử. Nhưng tôi lại không thích việc đó, vì mỗi ngày tôi phải nhìn vào kính hiển vi để hàn gắn các bộ phận điện tử. Tôi sợ rằng mắt tôi sẽ bị hư hại, thì tôi sẽ không đi học được nữa. Bởi vì tôi muốn vào đại học, tôi định đi làm việc này cỡ chừng một hay hai năm để dành một số tiền, và trong khoảng thời gian đó tôi sẽ ráng học tiếng Anh, rồi sau đó tôi sẽ xin vào đại học. Tôi không định làm việc này suốt đời đâu. Bởi vậy ngay từ ngày đầu tiên đi làm, tôi không chịu ráng học và ráng làm cho tốt. Cho nên chừng một tháng sau, thì tôi bị cách chức. Đó hoàn toàn là lỗi tại chính tôi.

Sau khi tôi mất việc rồi, tôi lại đi tìm nhân viện chính phủ Canada để xin họ giúp tôi tìm một việc khác. Nhưng một tháng sau, tôi vẫn chưa tìm được việc gì cả. Tôi rất lo lắng và sợ hãi. Lúc đó tôi không biết nói cùng ai hết, má tôi đã qua đời tại Việt Nam, ba tôi còn ở lại Việt Nam, ba cô gái kia ở chung với tôi cũng nghèo như tôi, họ cũng không giúp được gì hết.

Rồi tôi nhớ đến Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ đến những bạn Tín Đồ Cơ Đốc ở Hội Thánh thường hay cầu nguyện xin Chúa Trời giúp đỡ mỗi khi họ có việc gì buồn rầu hoặc khó khăn. Bởi vậy tôi nghĩ rằng tôi cũng có thể cầu nguyện xin Chúa Trời giúp đỡ tôi. Đó là lần đầu tiên tôi cầu nguyện với Chúa Trời, mà tôi lại không biết phải cầu nguyện như thế nào. Tôi cứ nói cho Ngài nghe tất cả những lo lắng và sợ hãi trong lòng tôi. Tôi cầu xin Ngài giúp tôi.

Tiếp tục đọc