Tiểu Sử Của Năm Vị Giáo Sĩ Trẻ Tuổi
Đây là câu chuyện về năm vị giáo sĩ trẻ tuổi đã làm chấn động dư luận cả thế giới vào năm 1956. Năm vị giáo sĩ này là người Mỹ, tên của họ là Jim Elliot, Pete Fleming, Ed McCully, Roger Younderian và Nate Saint. Họ đã dấn thân vào tận rừng già Nam Mỹ để tiếp xúc và chia sẻ tình yêu của Chúa Trời cho các sắc dân thiểu số. Những động lực gì đã thôi thúc họ để lại sau lưng một tương lai rực rỡ, đầy hứa hẹn mà đi rao truyền Tin Lành ở một xứ lạc hậu, nghèo nàn như nước Ecuador. Chúa Trời đã làm việc trong cuộc đời của họ như thế nào?
Đầu tiên tôi xin trình bày sơ lược tiểu sử của năm vị giáo sĩ đáng kính này.
Tiểu Sử Của Jim Eliot
Nhờ sự hướng dẫn tốt lành của gia đình, Jim lớn lên trong đường lối của Chúa Trời. Từ khi còn bé, cứ sau mỗi buổi ăn sáng thì cha của Jim thường đọc Kinh Thánh cho bốn người con thân yêu của mình. Ông cố gắng dạy các con mình phải luôn sống theo lời của Chúa Trời. Ông thường mô tả cho các con rằng sự vui mừng là phần thưởng lớn trong cuộc sống của Tín Đồ Cơ Đốc. Những dạy dỗ tốt lành đó đã thấm nhuần và in sâu vào tấm lòng của các con của ông. Jim là người con trai thứ ba trong gia đình, người đã tin vào Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của đời mình ngay khi còn rất trẻ.
Khi lên trung học, Jim muốn noi gương của sứ đồ Phao-lô, quyết tâm “không hổ thẹn vì Tin Lành của Đấng Christ”. Mỗi lần vào lớp học thì người luôn đặt quyển Kinh Thánh ở trên chồng sách của mình. Jim là con người có nghị lực, rất sốt sắng trong công việc của Chúa Trời. Mỗi lần khi người biết rõ ý của Chúa Trời, Jim luôn hết lòng hết sức vâng phục Ngài.
Khi bước vào năm thứ nhất đại học, Jim cố giới hạn những hoạt động ngoài chương trình học vấn, vì người không muốn vướng bận với những việc ít quan trọng mà lỡ đi những việc tối quan trọng. Lên năm thứ hai, sau khi nhận biết rằng Chúa Trời sẽ hướng dẫn mình đem Tin Lành đến các xứ Nam Mỹ, thì ngay lập tức Jim đi học tiếng Tây-ban-nha, là thứ ngôn ngữ chính của vùng Nam Mỹ. Cùng một lúc, Jim cũng học tiếng Hy Lạp để giúp cho việc phiên dịch Kinh Thánh trong tương lai.
Sắp lên năm cuối của đại học, Jim ghi lại trong quyển nhật ký của mình rằng: “Xin Chúa hãy khiến con trở thành nhiên liệu của Ngài, ngọn lửa của Chúa Trời.” Trong cuối năm chót, Jim tham dự một kỳ đại hội truyền giảng tổ chức tại trường đại học Illinois, đó là dành cho các sinh viên có ý định dấn thân vào công việc truyền giảng Tin Lành ở nước ngoài. Trong thời gian đó, Jim cầu nguyện xin Chúa Trời cho biết ý muốn của Ngài trong đời của mình. Vào cuối mùa hè 1950, cũng là vào lúc cao điểm của sự cầu nguyện và tìm cầu ý của Chúa Trời, Jim gặp một vị giáo sĩ đến từ xứ Ecuador. Sau đó, Jim dành trọn 10 ngày chăm chú vào việc cầu nguyện để khẳng định rõ ràng về ý muốn và sự hướng dẫn của Chúa Trời trong việc đi truyền giảng Tin Lành ở Ecuador.
Tiểu Sử Của Pete Fleming
Pete sanh trưởng ở Seatle, thuộc tiểu bang Washington. Vào năm 13 tuổi, người tin vào Chúa Giê-su sau khi nghe lời làm chứng của một vị giáo sĩ mù. Khi Pete lên trung học, người muốn bắt chước Hê-nóc “đi cùng với Đức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 5:22, 24). Khi vào đại học Washington, Pete chọn triết học làm môn học chính. Bởi thế, có một lúc Pete phân vân và lẫn lộn trước vô số lý thuyết triết học và tư tưởng xung đột lẫn nhau. Nhưng cuối cùng Chúa Trời là Đấng chăn giữ linh hồn, Ngài đã đưa Pete trở về với lời hằng sống. Pete rất siêng năng và chăm học, cho dù phải vừa đi làm vừa học và có bận làm sao đi nữa người vẫn ráng tranh thủ thời giờ để cầu nguyện và học tập lời của Chúa. Ngay sau khi đậu bằng cao học văn chương, Pete cố gắng tìm cầu sự hướng dẫn của Chúa Trời, thì người gặp lại người bạn xưa là Jim Elliot. Hai người giữ liên lạc với nhau và sau cùng Pete quyết định sẽ phụng sự Chúa Trời ở Ecuador. Điều này đã làm cho các bạn cùng khóa vô cùng kinh ngạc. Vào tháng 2 năm 1952, Jim và Pete đi bằng đường biển đến Guayaquil là thành phố lớn và tân tiến nhất của Ecuador. Họ ở tạm chỗ đó một đêm, hôm sau hai người lấy máy bay đi đến Quito, thủ đô của xứ Ecuador.
Tiểu Sử Của Ed McCully
Ed là con trai lớn trong gia đình, cha của Ed là người quản trị của một hãng bánh ở tiểu bang Milwaukee của nước Mỹ. Cha của Ed rất sốt sắng tham dự vào công việc truyền giảng Tin Lành. Cha của Ed đã có dịp đi khắp cả nước Mỹ và nắm lấy mỗi một cơ hội để làm chứng về Chúa Trời cho những hiệp hội thương mại và các nhóm Tin Lành ở khắp nơi. Khi Ed vào trường đại học Wheaton, người chọn học ngành kinh tế và doanh thương. Lúc ấy người chưa có ý định dự vào công việc truyền giảng Tin Lành ở nước ngoài. Con người Ed to lớn, lực lượng, cao khoảng 1.87m, nặng hơn 87 kí-lô, là một cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất của đội bóng đá trường đại học Wheaton. Nhưng Ed nổi bật nhất là môn thuyết trình, cho dù người chưa được huấn luyện chính thức về môn này, người đoạt giải nhất trong một cuộc tranh tài hùng biện toàn quốc ở San Francisco. Cuộc tranh tài hùng biện này có hơn 10,000 sinh viên tham dự. Năm sau Ed ghi tên vào học trường luật ở đại học Marquette. Ở Bắc Mỹ, môn luật là ngành học rất tuyển chọn và rất ít người được nhận, có khi còn khó vô hơn ngành y khoa nữa. Vào đầu năm thứ hai, Ed xin làm việc ban đêm ở một khách sạn. Tại vì buổi tối thường ít việc, Ed có thể dùng khoảng thời gian đó để ôn bài. Nhưng Chúa Trời đã sắp đặt sẵn một chương trình kỳ diệu cho cuộc đời của Ed. Từ khi bắt đầu làm việc, thay vì ôn bài thì Ed lại dùng thời gian đó học tập lời của Chúa. Điều này hẳn đã ảnh hưởng cuộc đời của Ed rất lớn. Đúng một ngày trước thời hạn ghi tên cho khóa mới, Chúa Trời đã làm một việc kỳ diệu trong lòng của Ed. Thay vì ghi tên đóng học phí với số tiền mình có, thì lòng của Ed được Chúa Trời cảm động, người quyết định không ghi danh học tiếp ngành luật nữa. Trong lá thư gởi cho Jim Elliot, Ed viết rằng: “Cách đây hai hôm, mình còn là sinh viên trường luật được mọi người nể trọng, nhưng giờ đây mình trở nên một người tầm thường không có gì cả. Cảm ơn bạn đã cầu thay cho tôi. Tôi cũng sẽ ghi nhớ cầu nguyện về chuyến đi Ecuador của bạn. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho nhau vì tôi cũng rất ao ước có thể đi Ecuador như bạn vậy.”
Để trang bị cho chuyến đi, vào năm 1951, Ed xin vào trường y tế truyền giáo ở Los Angeles. Người hết lòng học tập những môn bịnh nhiệt đới, cách chữa trị, về nha khoa và sản khoa. Ed được huấn luyện về những nguyên tắc y khoa căn bản và cần thiết để giúp những người dân bản xứ và cho chính gia đình của mình. Sau đó, vào tháng 12 năm 1952, Ed cùng với bà vợ là cô Marilou và Steve là đứa con được tám tháng, cùng đón tàu đi xứ Ecuador, là nơi mà Chúa Trời đã hướng dẫn người và gia đình đi rao truyền Tin Lành.
Tiểu Sử Của Nate Saint
Nate sinh trưởng trong một gia đình sống theo những nguyên tắc trong Kinh Thánh. Cha mẹ Nate dạy dỗ các con có kỷ luật lắm, nhưng không khí trong gia đình lại rất vui sướng. Rachel, chị của Nate tựa như người mẹ tí hon, thường đọc cho em nghe những sách nói về công việc truyền giáo ở các nước Phi Châu, Nhật Bổn, Ấn Độ và Nam Mỹ. Điều này đã in sâu trong tâm trí thơ ấu của Nate. Tuy không hề nghĩ rằng mình sẽ trở thành một người truyền giáo, nhưng Nate ước ao một ngày nào đó, mình có thể làm chứng về Chúa Trời cho những ai chưa hề được nghe về Tin Lành.
Vào năm 7 tuổi, Nate được Sam, người anh cả cho đi lên phi cơ. Được bay lượn trên không trung, bắt đầu từ đó những cánh phi cơ và khung trời mênh mông đã thu hút tâm hồn của cậu bé. Vào năm 10 tuổi, Nate mắc phải một chứng bịnh ngặt nghèo ở chân và bị bắt buộc phải ngưng tất cả những hoạt động, vì vậy mà Nate có nhiều thì giờ suy nghĩ và tự hỏi có phải Chúa Trời muốn mình trở nên một nhà truyền giáo chăng. Trong những năm trung học, Nate thường mơ tưởng về phi cơ và khung trời bao la bát ngát. Xong trung học, Nate xin vào làm việc tại một phi trường nhỏ và cùng lúc đó người học lái phi cơ hạng nhẹ. Sau một khoảng thời gian, Nate xin ghi danh vào trường sĩ quan không quân. Đây là cơ hội bằng vàng cho người, vì bấy lâu nay, Nate hằng mơ ước được lái những chiếc phi cơ quân sự to lớn và đầy năng lực. Nhưng giấc mơ của Nate chóng tiêu tan khi bịnh của người tái phát. Sự kiện xảy ra quá bất ngờ làm cho lòng của người tan nát vì không còn cơ hội học lái phi cơ cỡ lớn. Người trở nên chán nản vô cùng. Sau khi rời khỏi bịnh viện, Nate được giao cho chức vụ trưởng nhân viên bảo trì trong không quân. Trong công việc này, người có thời giờ để xem lại quyển Kinh Thánh mà người đã bỏ quên từ lâu.
Một năm sau, trong một buổi lễ thờ phượng vào đêm giao thừa, Chúa Trời làm việc thật mãnh liệt trong lòng của người. Lúc ấy, Nate khẩn thiết cầu xin Đức Cha trên trời cất đi những gì ngăn trở để người có thể đón nhận sự bình an mà Chúa hứa ban cho. Và “đùng một cái”, Nate tựa như nhìn vào mọi sự với đôi mắt khác. Lần đầu tiên người thật sự hiểu được câu Kinh Thánh: “Hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” Và cùng lúc, Nate nhìn vào lối sống xưa cũ của mình và nhận thấy cứ chạy theo cuộc đời tạm bợ này thật là một điều rồ dại.
Nate nghĩ rằng người sẽ từ giã nghiệp phi hành để trở lại trường để được trang bị cho việc phụng sự Chúa Trời. Nhưng vào lúc đó Nate biết đến “Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không” (Missionary Aviation Fellowship viết tắt là MAF). Chẳng bao lâu, Nate gặp hai cựu phi công hải quân thiết lập hiệp hội này. “Giáo sĩ phi hành”, đây thật là công việc lý tưởng, gần như đặc biệt sửa soạn cho Nate vậy. Nate bắt đầu luyện tập trở lại cách lái phi cơ hạng nhẹ. Vào tháng 7 năm 1946 công việc đầu tiên của Nate với Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không là đi Mexico để sửa chiếc máy bay bị hư khi đáp xuống. Vào mùa đông 1947 – 1948, người ghi danh học ở đại học Wheaton. Nhưng thời gian học tập bị cắt ngắn lại vì Ecuador đang cần phi công. Và vào tháng 9, Nate và một người phi công của Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không bay đi Ecuador.
Tiểu Sử Của Roger Younderian
Roger sinh tại Montana, là người con thứ bảy của một gia đình có trại chăn nuôi súc vật. Từ nơi mẹ, người được dạy dỗ tận tường trong đường lối của Chúa Trời. Vào năm chín tuổi, Roger mắc bịnh tê liệt (polio). Lên trung học, người khắc phục được ảnh hưởng của bịnh bại mà có thể chơi bóng rỗ. Hết trung học, Roger vào đại học “Montana State College” với ba học bổng và dự tính trở thành giáo sư canh nông. Năm 1942 Roger được chọn làm sinh viên thứ nhất xuất sắc nhất, nhưng tháng 10 năm 1943 Roger quyết định nhập ngũ và sau cùng người trở thành lính nhảy dù.
Trong một bức thư gởi mẹ, Roger nói rằng: “ngày vui mừng nhất trong đời là lúc con tin vào Chúa Giê-su. Khi con thật sự ăn năn và tin vào Chúa Giê-su làm Cứu Chúa thì con kinh lịch được sự tha thứ của ngài. Tìm hiểu lời Kinh Thánh là nguồn hy vọng và vui thú lớn nhất của con.”
Năm 1944 Roger sống sót sau lần nhảy dù ở Rhine và được tuyên dương công trạng về trận chiến ở Bulge, và người bắt đầu ngẫm nghĩ về việc hiến dâng trọn vẹn cuộc đời của mình cho Chúa Trời. Vào tháng 8 năm 1945, từ Bá-linh ở Đức, người viết thư cho mẹ: “Con có một bí mật muốn nói cho mẹ nghe. Mùa thu vừa qua, từ lúc tin vào Chúa Giê-su con ước mong làm tròn ý muốn của ngài. Hiện giờ con không biết Chúa Trời sẽ kêu gọi con làm gì, nhưng con ước ao làm chứng cho Chúa Giê-su và bước đi theo ngài.” Vào năm 1946, sau khi khẳng định Chúa kêu gọi mình đi rao truyền Tin Lành, Roger trở lại trường Northwestern để học. Nơi đây người gặp Barbara Orton đang học ngành “giáo dục Tin Lành” với ý định truyền giáo. Hai người quen biết và kết thân với nhau. Tháng 9 năm 1950, hai người cùng ghi tên học khóa “y tế truyền giáo”, và đúng một năm sau thì họ thành hôn với nhau. Năm 1953, Roger và Barbara cùng đứa con 6 tháng Beth Elaine lên đường đi Ecuador.
Năm Vị Giáo Sĩ Bị Thảm Sát Bởi Thổ Dân Auca
Công Việc Rao Truyền Tin Lành Cho Người Auca
Ecuador là một nước ở Nam Mỹ, theo chánh thể cộng hòa. Thủ Đô Quito nằm sát dưới Xích Đạo. Năm vị giáo sĩ đều từng sống ở Quito một khoảng thời gian. Họ tiến về khu rừng phía đông, vượt qua những ngọn núi thuộc dãy Andes cao ngắt, rồi lại lặn lội xuống khu “rừng mưa”. Muốn đi đến đó, họ chỉ có thể lựa chọn một trong hai phương tiện di chuyển: hoặc đi bằng một loại phi cơ thương nghiệp nhỏ, chuyến bay thì mỗi tuần chỉ có một lần, hoặc đi bằng một loại xe lửa mà giờ khởi hành không nhất định. Hai thầy Jim và Pete đã chọn đường bộ trong chuyến đi đầu tiên vào khu rừng rậm. Đường xe rất gồ ghề, nhưng phong cảnh thì tuyệt đẹp.
Tại địa điểm Bãi Dừa (Palm Beach) là nơi mà 5 vị giáo sĩ đang chờ đợi những người thổ dân Auca xuất hiện. Một trong những việc đầu tiên mà các thầy phải làm là lựa chọn một thân cây để xây một căn nhà. Nhà được dựng lên cách mặt đất khoảng chín thước, điều này bảo đảm sự an ninh vào đêm, đặc biệt là khi ngọn đèn dầu được đốt ở dưới thân cây làm sáng tỏ cả khu vực.
Auca là một bộ lạc hung tợn khét tiếng, chưa hề có người ngoài thăm viếng, nếu có ai viếng thăm thì chắc khó mà toàn mạng sống trở về. Sau những lần trao đổi quà và những thông điệp, những đám ứng thiện cảm của người Auca đã khuyến khích các vị giáo sĩ tiến triển công việc gặp gỡ với dân Auca hầu chia sẻ Tin Lành của Chúa Giê-su cho họ.
Thầy Nate tìm nơi có thể làm bãi đáp cho phi cơ. Để chuẩn bị, thầy đã phải mất sáu chuyến bay để chuyên chở tất cả các vật dụng cần thiết đến Bãi Dừa. Vào ngày 2 tháng giêng năm 1956, năm vị giáo sĩ đã đặt chân lên Bãi Dừa.
Đang khi các thầy ở trên bãi, thì Betty là vợ của thầy Jim ở tại tram Shandia đón nghe tin tức về Bãi Dừa. Cứ mỗi chuyến bay của thầy Nate, thì Marjorie vợ của thầy Nate đều đi ra ngoài để quan sát thời tiết, và bà sẽ cho thầy Nate biết tình hình khí tượng trước khi phi cơ đáp xuống. Nếu không có những phương tiện thông tin qua làn sống ngắn radio thì chương trình phi hành sẽ không thể thực hiện được.
Cuộc Gặp Gỡ Đầu Tiên Với Người Auca
Vào thứ sáu, ngày 6 tháng giêng năm 1956, sau ba ngày chờ đợi trên bãi, các vị giáo sĩ thấy ba người Auca xuất hiện, một người đàn ông và hai người đàn bà. Cả ba đều khá trẻ. Các thầy đặt tên cho họ, người đàn ông là “George”. Lẽ tất nhiên, đôi bên đều không hiểu nhau, chỉ trừ vài tiếng mà thầy Jim đã học được từ một phụ nữ người Auca. Chàng “George” xem có vẻ rất tự nhiên. Anh lấy làm thích thú về phi cơ, thậm chí anh ta còn xin được bay một vòng, khi bay đến ngôi làng mình, anh ta vui mừng cười khúc khích và còn nghiêng mình ra ngoài để vẫy tay và kêu lớn tiếng khi thấy những khuông mặt quen thuộc. Trở về Bãi Dừa thì George nhảy xuống phi cơ và vỗ tay mừng rỡ. Còn “Delilah”, một trong hai người đàn bà Auca trẻ tuổi thì mê say về cách cấu tạo của phi cơ. Cô cọ xát người vào thân phi cơ và dùng cánh tay mình bắt chước cách bay lượn. Thầy Nate bèn trao tặng cho cô một chiếc phi cơ kiểu mẫu nhỏ, cô ta vui sướng tiếp nhận món quà này.
Các giáo sĩ thấy George đặc biệt để ý đến chiếc phi cơ, họ cố gắng giải thích cho anh hiểu cách xây một bãi đáp tại ngôi làng anh. Lúc đầu George không hiểu danh từ “cây” mà các thầy nói bằng tiếng Auca. Cuối cùng khi anh hiểu ý, anh giúp họ sửa cách phát âm cho đúng. Các thầy cặm vào bãi cát những khúc củi tượng trưng cho những “thân cây” chưa đốn đi. Với chiếc máy bay kiểu mẫu nhỏ, thầy Nate cho George thấy rằng phi cơ sẽ bị rớt và đâm vào những thân cây. Rồi các thầy diễn lại cảnh này, nhưng lần này dùng những dao dài để đốn “thân cây” mà xây bãi đáp. Các vị giáo sĩ cũng cho ba người khách coi những vật kỳ lạ tân tiến. Ba người Auca này trông rất bình tĩnh, thoải mái và tự nhiên. Họ có vẻ hồn nhiên và thân thiện. Các thầy mong rằng họ được mời đi thăm viếng ngôi làng Auca. Vào buổi chiều tối, ba người khách rời khỏi Bãi Dừa. Các thầy trông đợi họ trở lại.
Vào trưa Chúa Nhật, ngày 8 tháng giêng 1956, thầy Nate báo tin cho bà vợ là Marjorie biết rằng trên phi cơ thầy đã nhìn thấy một đoàn mười người Auca đang đi trên đường. “Không chừng họ sẽ đến Bãi Dừa vào buổi chiều hôm nay. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi.” Thầy Nate cảm thấy đây là thời điểm Chúa Trời đã chọn để họ gặp gỡ người Auca, và thầy hẹn sẽ liên lạc với bà vợ vào lúc 4 giờ 30 chiều.
Đúng 4:30 chiều ở trạm Shell Mera, Marjorie bật máy thu làn sóng ngắn chờ đợi tin tức. Đây là thời điểm trọng đại, bà tự nhủ và hỏi: “Không biết các thầy có được mời đến thăm viếng ngôi làng Auca không? Có những diễn tiến gì mà Nate sẽ thông báo cho tôi biết nữa đây?” Nhưng máy không nhận được dấu hiệu nào cả. “Đồng hồ của Nate có đi trễ không?” Marjorie và Olive vợ thầy Pete Fleming nóng lòng chờ đợi. Ở Arajuno, hai bà Marilou vợ thầy Ed và Barbara vợ thầy Roger liên lạc với Shell Mera. Nhưng hoàn toàn yên lặng!
Thời gian trôi qua, 5 phút, 10 phút… Chẳng lẽ họ lo tiếp đón đến nỗi quên liên lạc với vợ sao? Vô lý quá, chuyện gì đã xảy ra? Sự gặp gỡ với người Auca đã diễn ra như thế nào?
Chuyện Gì Đã Xảy Ra Trên Bãi Dừa
Không chừng radio của các thầy không chạy, điều này đôi khi cũng xảy ra. Những người vợ nắm lấy từng tia hy vọng nhỏ, họ không muốn nghĩ đến những chuyện không may. Ở Arajuno, Barbara và bé Beth Youderian có vẻ phấn khởi hơn một chút, vì theo dự tính thì thầy Roger sẽ đến Arajuno tối nay. Chắc chắn chiếc máy bay tí hon sẽ xuất hiện ở trên đỉnh cây trước khi mặt trời lặn. Barbara và Beth cứ đi tới đi lui dọc theo bãi đáp, chờ đợi.
Thứ hai, ngày 9 tháng giêng, 1956, vào lúc 7 giờ sáng, Johnny Keenan, bạn của Nate Saint trong “Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành” bay về phía Bãi Dừa. Trong lúc đó Marjorie gọi Betty vợ thầy Jim ở Shandia qua máy radio làn sóng ngắn cho biết rằng: “Hoàn toàn không nhận được tin tức gì của các thầy từ trưa hôm qua đến giờ.” Betty biết rằng chắc có điều gì không hay xảy đến. Một câu Kinh Thánh mà Chúa Trời đã in sâu vào tâm trí của bà khi mới đến Ecuador đột nhiên trở lại một cách rõ rệt: “Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng ngươi, và khi qua các sông, chúng sẽ không tràn ngập ngươi…” Betty lên trên lầu tiếp tục giảng dạy lớp đọc và viết cho các chị em thổ dân, vừa im lặng cầu nguyện: “Chúa ơi, chớ để các dòng nước tràn lấp con.”
Vào khoảng 9 giờ rưởi, Marjorie vợ thầy Nate cho biết tường trình của Johnny. Chiếc phi cơ màu vàng đã được tìm thấy trên bãi, tất cả những lớp vải bọc cánh đều bị xé đi, và hoàn toàn không thấy bóng người.
Tối hôm đó các nhân viên quyết định tổ chức một toán cứu cấp đường bộ. Frank Drown là một giáo sĩ bạn của Roger, thầy làm việc trong bộ lạc Jivaros, thầy có 12 năm kinh nghiệm về đi rừng, cho nên thầy sẽ hướng dẫn toán đó. Bác sĩ Art Johnston, một vị y sĩ liên hệ với đài radio truyền giáo ở Quito, thủ đô của Ecuador, cũng tình nguyện cùng đi để lo về vấn đề y tế. Mười ba binh sĩ Ecuador cũng xin tham dự.
Thứ tư, Johnny Keenan lại bay một lần nữa trong chiếc phi cơ thứ hai của Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành về hướng Bãi Dừa để xem có dấu hiệu sự sống gì không. Marjorie đang túc trực chờ Johnny báo cáo, từ chiều Chúa Nhật đến giờ bà gần như chưa hề rời máy radio. Barbara, Olive vợ của thầy Pete và Betty đang ở trên lầu. Bất thình lình, Marjorie kêu lên: “Betty! Barbara! Olive!” Betty vội chạy xuống lầu, Marjorie đang đứng đó và đầu dựa vào radio, mắt bà nhắm lại. Sau một hồi, bà nói: “Johnny thấy một xác chết.”
Cách nơi chiếc phi cơ truyền giáo màu vàng khoảng hơn 400 thước, Johnny nhìn thấy một cái xác nổi lên trên sông, mặt úp xuống, mặc quần kaki và áo T-shirt trắng, đó là đồng phục quen thuộc của các thầy. Barbara nhận thấy đây không phải là Roger, vì thầy Roger mặc quần jeans màu xanh dương. Tiếng radio lại vang lên, lại nhìn thấy một cái xác khác, khoảng 70 thước ở phía dưới Bãi Dừa. Mọi người đều không biết hai cái xác đó là ai.
Thứ năm, sau khi cắm trại qua đêm tại Oglan, toán cứu cấp đường bộ khởi hành và tiến vào một cách thận trọng dọc theo sông Curaray hướng về Bãi Dừa. Một nhóm khác là thổ dân Quichuas trong hai chiếc xuồng tiến lên từ hạ lưu của con sông, nhắm về hướng của toán cứu cấp. Họ là một nhóm thổ dân thuộc trạm của thầy McCully tại Arajuno. Họ đã chủ động và can đảm đi trước mọi người tiến vào Bãi Dừa thuộc lãnh thổ của bộ lạc Auca.
Khi một Tín Đồ trong nhóm thổ dân Quichuas này báo tin cho biết đã tìm thấy xác của thầy Ed ở trên bãi ngay tại mé nước, mọi người đều đau lòng. Anh Tín Đồ thổ dân này đem theo đồng hồ đeo tay của Ed. Bấy giờ các giáo sĩ trong toán cứu cấp biết rõ một trong hai người đã gục ngã là ai, nhưng họ nghĩ rằng vẫn còn hy vọng, không chừng ba người kia có thể sống sót. Họ tiếp tục cuộc hành trình. Tối đó, họ dừng lại và cắm trại ở El Capricho là nơi dân Auca đã từng giết vài người. Họ dựng lên vài cái chòi lá nhỏ, đặt toán canh gác gồm 2 vị giáo sĩ, hai binh sĩ Ecuador và hai thổ dân Quichuas.
Trong ngày đó, thiếu tá không quân Nurnberg của toán đường bay trong chiếc trực thăng quân sự đáp xuống Bãi Dừa trước tiên. Ông nhảy xuống và nhìn chung quanh, những giây phút lo lắng trôi qua, ông điện về: “Không có ai ở đây cả.” Trực thăng lại cất cánh, bay chậm dọc theo con sông, qua bên kia bờ rồi dừng lại. Mấy phút sau, ông lại tiếp tục tiến lên và dừng lại khoảng 200 thước xa hơn. Rồi lần thứ ba và lần thứ tư nữa, trực thăng như treo bất động cách mặt nước khoảng bốn thước. Bốn lần ngừng lại là bốn lần mục kích những cảnh đau lòng. “Chúng tôi đã tìm thấy bốn xác chết trong con sông.” Thiếu tá Nurnberg cho biết. Còn xác của Ed mà thổ dân Quichuas thấy thì lúc đó không còn trên bãi nữa. Không chừng đã bị đẩy trôi đi bởi cơn mưa và dòng nước lớn tối hôm qua.
Sáng thứ sáu toán đường bộ tiếp tục chặng đường cuối cùng để đến Bãi Dừa. Họ thấy chiếc phi cơ truyền giáo màu vàng với đôi cánh bị xé và lột đi, và những xác chết nằm dọc theo bờ sông. Khung cảnh thật là kỳ quái. Một cơn giông to kéo đến dưới bầu trời nhiệt đới. Mưa trút xuống như nước đổ. Các vị giáo sĩ trong toán cứu cấp rất mệt mỏi, họ nhìn lần chót những người bạn của họ mà thân thể không còn nhận ra được là ai. Một vị nói: “Như vậy tốt hơn, tôi cảm thấy đỡ đau đớn.”
Liền sau lễ mai táng, thiếu tá Nurnberg hướng dẫn toán cứu cấp đường bộ ra khỏi nơi nguy hiểm. Chiếc xuồng chở đầy người và di vật của các vị giáo sĩ tử nạn từ từ rời Bãi Dừa. Vừa đi đường bộ lẫn đường sông, khi xuyên qua lãnh địa của dân Auca, tay của mọi người đặt trên cò súng, những đôi mắt nhìn cách khẩn trương quan sát khu rừng chung quanh.
Thứ bảy, khoảng trưa đoàn người vượt ra khỏi ranh giới của người Auca một cách an toàn. Họ ngủ đêm tại một nơi cách Arajuno 6 tiếng đồng hồ bằng đường bộ. Hôm sau, 3 giờ chiều Chúa Nhật họ về đến Arajuno, mang theo những bộ phận còn lại của chiếc phi cơ cùng với những cây lao đã giết hại các vị giáo sĩ mà họ đã tìm thấy trên Bãi Dừa.
Tâm Linh Tôi Yên Ninh Thay
Tại trạm truyền giáo Shell Mera, những bà vợ của năm vị giáo sĩ tử nạn đang chờ đợi. Qua thông tin của máy radio, họ đều biết rằng các thầy đã bỏ mạng. Nhưng họ muốn biết rõ mọi chi tiết. Thiếu tá Nurnberg bắt đầu kể những gì ông biết cho bà Marjorie vợ thầy Nate trong khi hai bà Olive và Barbara đứng nhìn. Sau đó mọi người đều tụ lại trong nhà bếp. Mở sổ tay của ông ra, thiếu tá Nurnberg kể lại những gì ông đã thấy: “Một xác chết vướng ở dưới nhánh của một cây ngã xuống, chỉ thấy một bàn chân mang vớ màu xám hiện ra ở trên mặt nước. Vị này mang một dây nịt lưng màu đỏ với loại chỉ đan.” Cặp mắt của bốn người vợ cùng nhìn về phía Olive Fleming. “Đó là Pete,” Olive nói một cách ngắn ngủi. “Một xác khác mặc T-shirt và quần jeans màu xanh.” Chỉ có mình Roger mặc quần jeans. Rõ ràng cả năm vị giáo sĩ đều bị những cây lao đâm vào thân thể mà chết đi. Trên thân ngọn lao đâm vào thân thể của Nate Saint có quấn một tờ truyền đạo đơn mà các thầy đã thả xuống cho người Auca. Gần chỗ tìm thấy thân thể của Jim Elliot thì có một cây lao phóng và cắm ở lòng sông.
Các khuôn mặt của 5 người góa phụ trẻ tuổi mang vẻ sầu tư và mòn mỏi, nhưng không hề có sự than trách hoặc tự thương hại. Steve, đứa con trai 3 tuổi của Nate Saint đang đứng ở ngoài hành lang, em có vẻ không hiểu chuyện gì đã xảy đến cho ba của mình, và chắc không nhận thức được điều mỉa mai về con két đang đậu kế bên. Con két đó là món qua mà người Auca đã tặng cho các thầy truyền giáo.
Sau cùng, phái đoàn quân sự rời khỏi một cách lặng lẽ. Hung tin họ mang đến đã được đón nhận một cách trầm tĩnh. Barbara viết lại:
“Chúa Trời cho tôi câu Kinh Thánh này cách nay hai hôm, Thi Thiên 48:14: “Vì Đức Chúa Trời này là Chúa của chúng ta đời đời vô cùng, Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta cho đến chết.” Khi tôi phải đối diện với hung tin của Roger, lòng tôi tràn đầy sự ngợi khen Chúa, vì Roger đã đến đây để làm theo ý muốn của Chúa, nên Ngài đã gìn giữ tâm hồn chúng tôi trong cơn đau buồn, khủng khiếp. Ngài còn khiến lòng chúng tôi tràn đầy sự bình yên hoàn toàn của Chúa.”
Không ai biết rõ chuyện gì đã xảy ra trên bãi, và tại sao sự gặp gỡ có vẻ thân thiện lúc đầu đã trở thành một cuộc thảm sát. Tại sao? Tại sao? Rất nhiều câu hỏi cần được nêu ra nơi đây: Tại sao thảm kịch này lại xảy ra? Rõ ràng các vị giáo sĩ này đã dấn thân trong đức tin để rao truyền Tin Lành, tại sao Chúa lại không bảo vệ họ? Đức Chúa Trời của họ ở đâu rồi? Còn công việc rao truyền Tin Lành giữa người Auca thì ra sao, có phải đã kết thúc với màn cuối của vở thảm kịch này chăng?
Tiếp Tục Công Việc Rao Truyền Tin Lành Cho Người Auca
Cầu Nguyện Cho Người Auca
Thư từ ở khắp nơi gửi về cho 5 vị quả phụ. Một bức thư từ một trường trung học bên Nhật Bổn nói rằng: “Chúng tôi đang cầu nguyện cho các vị”; có bức thư từ một nhóm các em trường Chúa Nhật người Eskimo ở Alaska; từ một Hội Thánh người Hoa ở Houston; từ một người truyền giáo ở vùng sông Nile của nước Ai-cập. Trên khắp thế giới người ta bắt đầu cầu nguyện cho người Auca. Chỉ trong tương lại ở cõi đời đời vô tận, chúng ta mới đếm được tất cả những lời cầu nguyện đã dâng lên cho những người quả phụ và con cái của họ, và cho công việc rao truyền Tin Lành mà 5 vị giáo sĩ đã bắt đầu.
Tiếp Tục Công Việc Của Các Vị Giáo Sĩ Tử Nạn
Nhiều kế hoạch được soạn ra tức thì để tiếp tục công việc của các thầy. Trạm ở Arajuno đã được chuẩn bị sẵn sàng trong trường hợp dân Auca tìm đến để liên lạc giao hảo. Những chuyến bay chở quà tặng cho người Auca được Johnny Keenan tiếp tục, hầu cho người Auca biết chắc rằng những người da trắng này chỉ có ý định thân thiện thôi. “Trả thù ư?” ý tưởng này chưa hề xảy đến trong tâm trí của các người vợ trẻ mất chồng hay các người giáo sĩ khác.
Bà Barbara vợ của thầy Roger dắt theo hai đứa con nhỏ trở về tiếp tục công việc giữa người Jivaros. Còn Betty vợ thầy Jim thì trở về Shandia với đứa con gái Valerie lúc ấy mới được mười tháng để tiếp tục công việc ở trạm Quichuas. Marjorie vợ thầy Nate đảm nhận một công việc mới ở Quito. Chỉ vài tuần lễ sau cái chết của chồng, bà Marilou vợ của thầy Ed về Mỹ sinh đứa con thứ ba. Sau đó, cùng các con, bà Marilou trở lại Ecuador làm việc chung với Marjorie vợ thầy Nate ở Quito. Về phần bà Olive, khi chồng của bà là Pete tử nạn, bà vừa mới đến và sống ở trong khu rừng được hai tháng. Về tương lai của bà Olive thì vấn đề khó khăn hơn. Tuy vậy, một điều bà biết chắc là, cũng như chồng mình, cuộc sống của bà thuộc về Chúa Trời và Ngài sẽ hướng dẫn đường lối cho bà.
Bà Betty Cũng Cầu Nguyện
Bà Betty cầu nguyện xin Chúa Trời mở đường, nhưng bà không biết phải đề nghị điều gì. Bà cũng xin Chúa Trời hãy sai một người đầy tớ của Ngài đến với người Auca để kể cho họ biết rằng 5 vị giáo sĩ chỉ muốn đến để giúp họ nhận biết Đức Chúa Trời, Ngài đã sáng tạo ra họ, và Ngài cũng thật sự quan tâm họ, Ngài là Đấng xứng đáng được họ tin tưởng vào. Lúc ấy bà cũng nói, nếu Chúa Trời muốn, bà sẵn sàng đi làm công việc này. Nhưng điều này xem có vẻ phi lý, nếu 5 vị giáo sĩ đã bị giết, thì thử hỏi ai lại có thể thành công. Tuy vậy bà Betty biết rằng Đức Chúa Trời có thể làm điều này nếu Ngài muốn, và đây mới chính là lý do để cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là một điều vô ích.
Dayuma, Mintaka và Mankamu
Tháng 11 năm 1957, lúc Betty đang ở trạm Arajuno của thầy McCully lúc trước, hai thổ dân Quichuas đến từ sông Curaray báo tin cho bà biết rằng có hai người đàn bà Auca vừa rời bỏ bộ lạc mà đi thẳng vào làng của người Quichuas và hiện đang ở tại nhà họ. Betty ngay lập tức cùng đi để gặp họ. Hai người đàn bà Auca đó tên là Mankamu và Mintaka. Ít lâu sau, hai cô này cùng Betty trở về Shandia. Cô Rachel Saint, chị của thầy Nate, cũng chia sẻ với Betty những tài liệu quý giá về ngôn ngữ Auca. Cô Rachel đã học tiếng Auca từ một người phụ nữ người Auca tên là Dayuma. Cô Auca này đã ở chung với Rachel được nhiều năm rồi. Betty mới dùng những tài liệu này làm nền tảng và bắt đầu học tiếng Auca với hai người phụ nữ Mintaka và Mankamu.
Betty không ngừng cầu nguyện xin Chúa Trời dẫn dắt họ đi vào bộ lạc Auca. Một ngày kia, khi Dayuma, Mintaka và Mankuma gặp nhau, họ quyết định sẽ về thăm nhà. Có người nói với Dayuma rằng: “Mẹ của cô vẫn còn sống, bà ấy muốn cô trở về nhà.” Thế rồi họ trở về bộ lạc Auca. Cô Rachel và bà Betty chờ đợi họ.
Lời Cầu Nguyện Được Nhận
Trong thời gian thăm nhà, các cô Auca này nói về những người xa lạ tốt lành rất đáng kính mến. Các cô này đã thuyết phục được người Auca rằng có những người ở ngoài bộ lạc rất tốt, ấy là những người muốn đến sống với người Auca để kể cho họ biết về Giê-su, ngài là một người tốt. Họ cần phải nghe những câu chuyện của Giê-su và học cách nói chuyện với Đức Chúa Trời, học cầu nguyện. Sau cùng họ nói rằng: “Vâng, hãy để những người ngoài đến, chúng tôi không cần phải giết nữa đâu.” Khi Dayuma, Mintaka và Mankamu trở lại Arajuno, họ dẫn theo bảy người Auca. Họ mời Rachel, Betty và Valerie, đứa con gái nhỏ của Betty cùng đến sống tại bộ lạc Auca.
Bà Betty và Cô Rachel đã cầu nguyện xin điều này, nhiều người khác cũng cầu nguyện xin điều đó nữa. Betty nghĩ tới những lời của tiên tri Êsai 50:7: “Vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ giúp tôi, nên tôi chẳng bị bối rối, bởi vậy tôi làm mặt tôi cứng như đá, vì biết mình sẽ chẳng bị hổ thẹn.” Họ biết đây là việc làm của Đức Chúa Trời, nên họ đi.
Tháng 10 năm 1958, hai năm rưởi sau khi các vị giáo sĩ bị giết, Betty cùng với em bé Valerie và Cô Rachel bắt đầu đi vào xứ Auca qua phương tiện và sự giúp đỡ của người Quichuas. Chuyện gì sẽ xảy ra? Người Auca tiếp đón cô Rachel, Valerie và bà Betty như thế nào? Họ sống như thế nào tại làng Auca? Liệu họ có thể thích ứng với đời sống mới của nền văn minh thời kỳ đồ đá hay không? Tin Lành được rao truyền như thế nào?
Giáp Mặt Với Người Auca
Ở đó bà Betty, Valerie và cô Rachel giáp mặt với người Auca. Người đầu tiên họ gặp là “Delilah”, cô em gái nhỏ nhất của Dayuma, chính cô là người bày tỏ sự thân thiện với 5 vị giáo sĩ trên Bãi Dừa, ba ngày trước khi 5 vị ấy tử nạn. Betty phải nhắc nhở cho mình rằng đây là những người đã giết các vị giáo sĩ. Họ mang tiếng là một sắc tộc dã man nhất trên thế giới. Dầu họ rất dã man, họ cũng là con người, cũng cười, cũng giỡn và tắm rửa. Họ không tỏ vẻ thù nghịch gì đối với bà.
Thế thì tại sao họ lại giết 5 vị giáo sĩ? Có một anh người Auca chính là một trong những người tham dự vào cuộc thảm sát. Betty được biết họ cũng có quan niệm chính xác về những điều phải hay trái, cho dù quan niệm của họ hơi khác với người ngoài. Họ tin rằng giết người là sai lầm ngoại trừ trong trường hợp đặc biệt. Một người trong họ nói rằng, họ lầm tưởng rằng 5 vị giáo sĩ là những kẻ ăn thịt người. Có những người ở ngoài bộ lạc Auca đã giết người để ăn thịt. Lẽ dĩ nhiên nếu những kẻ ăn thịt người tìm đến người Auca, thì tiêu diệt họ là điều phải lẽ và hợp lý. Thật ra, chính sự sợ hãi đã thúc đẩy họ đến việc giết hại 5 vị giáo sĩ, mà bây giờ họ nhận thức điều đó là sai lầm.
Sống Với Người Auca
Như vậy Betty, em bé Valerie và cô Rachel bắt đầu cuộc sống với người Auca. Họ nghĩ rằng phương cách hay nhất là ráng sống như người Auca, ăn cùng một loại thức ăn như người Auca, làm những việc làm của người Auca. Người Auca đối xử tử tế với Rachel, Valerie và Betty. Họ cho Rachel một chỗ ngủ trong căn chòi. Họ giao cả cái nhà cho Betty và Valerie. Nhà của họ chỉ có một cái nóc, không có tường, không có sàn, không có cửa và cũng không kín đáo. Khi mái nhà bắt đầu bị dột, họ hợp lá lại cho Betty và Valerie.
Nói chuyện là một khó khăn thường xuyên. Betty cũng không thể đặt hơn một hay hai câu ngắn. Rachel và Betty ráng phân tích và tập nói. Thử ghi lại một thứ tiếng xa lạ với cách phát âm riêng biệt không có văn viết là điều khó khăn vô cùng. Còn Valerie thì không có khó khăn gì cả. Với khả năng bắt chước và trí nhớ của đứa bé ba tuổi, em có thể trao đổi với người Auca. Em Valerie cho các em bé người Auca coi những sách hình và dạy chúng cách cầm viết và vẽ. Đây là cách học ngôn ngữ hay nhất.
Khoai mì là thức ăn chính của thổ dân. Họ dùng khoai mì mỗi buổi ăn. Ngoài những thức ăn do phi cơ tiếp tế thả xuống, Betty, Valerie và Rachel cũng tập ăn khoai mì cùng những món ăn khác mà thổ dân cho họ.
Ngày trọng đại của mỗi tuần là lúc phi cơ đến thả đồ tiếp tế. Lúc đó còn chưa có phi đạo, nhưng viên phi công thành thạo trong việc nhắm vào khoảng đất trống không cây cối. Ông cho phi cơ bay ở cao độ rất thấp rồi thả đồ xuống, thường thường những món này rơi ngay vào trung tâm điểm.
Vào sinh nhật của bé Valerie, cháu còn nhận được bánh sinh nhật được thả xuống bằng dù. Bánh ấy đến trọn với đủ bộ đèn cầy, và cũng có vài con kiến nữa. Hiển nhiên, điều này không làm Valerie hay các em khác thấy khó chịu khi chia bánh với nhau. Ngoài ra, cháu cũng nhận được bong bóng, Betty và Rachel đã dùng bong bóng đó trong dịp tổ chức sinh nhật cho các trẻ em Auca.
Tại đây một vài tháng sau khi Betty, Rachel và em bé Valerie đến, tất cả các thổ dân Auca đều có áo quần để mặc. Cô Dayuma đã học may và đã bỏ rất nhiều thì giờ để may quần, áo sơ mi, và y phục cho phụ nữ. Vài người trong thổ dân mặc y phục thường xuyên, nhưng có những người khác thì không muốn bắt chước cách ăn mặc của người ngoại quốc.
Betty đã giới thiệu rất nhiều đồ vật mới cho thổ dân Auca. Chẳng bao lâu, họ biết cây kéo là dùng để làm gì, và họ muốn được cắt tóc. Lúc trước họ thường dùng một loại vỏ xò bén lượm từ con sông. Nhưng bây giờ thì Betty dùng phương pháp mới để cắt tóc cho họ. “Kakady” là tên Auca của Betty, và bà sẵn sàng làm cô thợ hớt tóc cho họ.
Nói Về Đức Chúa Trời Cho Người Auca
Cô Dayuma giải thích cho thổ dân Auca rằng một ngày trong tuần lễ là ngày Chúa, và vào ngày Chúa cô sẽ nói về Đức Chúa Trời cho họ nghe. Mọi người được mời ngồi xuống và yên lặng. Cô kể cho họ nghe những câu chuyện rất đơn giản từ thời Cựu Ước và những chuyện Chúa Giê-su đã làm, cô dùng những ví dụ hay tranh ảnh, kèm theo những cách áp dụng trong đời sống của thổ dân Auca. Cô Dayuma kể rằng Chúa Giê-su dạy chúng ta chớ giết người. Ngay lập tức, một người đàn ông thổ dân ngưng làm lao. Có những lần họ cần cây lao để giết heo rừng, và sau khi họ giải thích rất rõ ràng cây lao mà họ đang làm là dùng để làm gì, họ mới làm những cây lao mới.
Tháng 11 năm 1958
Tháng 11 năm 1958, kể từ buổi chiều Chúa Nhật mà 5 vị giáo sĩ tử nạn đến nay đã gần 3 năm trôi qua. Hôm nay Betty ngồi trong một căn chòi nhỏ lợp lá bên dòng sông Tiwanu, chỉ cách Bãi Dừa một vài dặm về phía tây nam. Cách chỗ Betty ngồi khoảng vài thước, trong một ngôi nhà lá có hai người, họ là 2 trong 7 người đã giết 5 vị giáo sĩ. Gikita, một trong hai người ấy, vừa mới giúp nướng chuối sống cho Valerie, cô bé bấy giờ đã được ba tuổi rưởi.
Những truyện kỳ lạ như thế làm sao có thể xảy ra? Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng đã làm cho một khối sắt nổi lên, làm cho mặt trời đứng lại, và nắm trong tay hơi thở của tất cả mọi sự sống, chỉ có Đức Chúa Trời như thế, Đấng đời đời vô cùng mới có thể làm một việc lạ lùng như vậy.
Tin Lành Là Quyền Năng Của Chúa
Về sau, người ta thường hỏi rằng: “Chuyện gì đã xảy đến cho bộ lạc Auca? Có bao nhiêu người tin vào Chúa? Có người rao truyền Tin Lành cho những bộ lạc khác hay không?”
Cũng có nhiều người hỏi rằng: “Tại sao những người đã tin cậy vào Chúa Trời để bảo vệ và thuẫn che họ lại bị lao đâm chết như thế?” Câu hỏi này không thể trả lời một cách dứt khoát. Chúng ta cũng không sao tìm được câu trả lời vừa ý mà chỉ có giao phó cho Chúa Trời.
Đối với người đời, câu chuyện kể trên là một sự mất mát đáng tiếc của 5 mạng sống trẻ tuổi. Nhưng Chúa Trời có chương trình và mục đích trong mọi sự. Cuộc đời của rất nhiều người đã thay đổi hẳn vì sự hy sinh của 5 vị giáo sĩ này. Ở Brazil, có một nhóm thổ dân tại một trạm truyền giáo nọ, khi nghe tin họ đã quì xuống và kêu cầu Chúa Trời tha thứ những đồng bào Auca này. Một vị thiếu tá không quân Mỹ đang đóng ở bên Anh lập tức bắt đầu dự tính gia nhập vào “Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành.” Một người truyền giáo ở Phi Châu viết: “Công việc của chúng tôi sẽ không bao giờ như xưa nữa. Chúng tôi quen biết 2 trong 5 vị giáo sĩ tử nạn. Cuộc đời của họ đã để lại một dấu ghi trong lòng chúng tôi.” Ở tiểu bang Iowa, một cậu thanh niên 18 tuổi cầu nguyện trong phòng suốt tuần, sau đó anh này báo tin cho cha mẹ mình rằng anh đã giao phó trọn vẹn cuộc đời cho Chúa Trời. Anh muốn thử thay thế và tiếp tục công việc của 1 trong 5 vị giáo sĩ tử nạn.
Vài năm sau, Betty trở về nước Mỹ, nhưng cô Rachel ở lại tiếp tục làm việc giữa người Auca trong mấy chục năm. Cô tiếp tục rao truyền tình thương của Chúa Giê-su cho dân Auca, nhưng cô không muốn tra hỏi hoài tại sao người Auca lại giết 5 vị giáo sĩ đó, cô thấy rằng câu trả lời không cần thiết và không quan trọng, cô cứ giao phó mọi việc trong tay của Chúa. Rất nhiều người Auca trở thành Tín Đồ của Chúa, và họ đổi tên của bộ lạc họ là “Waorani”, họ không muốn được gọi là người Auca nữa. Vì “Auca” trong tiếng Quichua mang ý nghĩa là tàn phá.
Cô Rachel và một cô truyền đạo khác tên là Catherine Peeke đã ráng học tiếng Waorani, và còn tạo ra chữ viết cho họ, vì dân Waorani không có chữ viết. Rachel và Catherine đã phiên dịch những bộ phận trong Kinh Thánh thành ra ngôn ngữ Waorani.
Cảnh Tượng Bọn Thiên Sứ Ca Hát Trên Không Trung
Ba mười ba năm sau (tức là năm 1989), một người phụ nữ Waorani tên là Dawa và một người đàn ông tên là Kimo nói ra một câu chuyện rất kỳ diệu. Lúc đó cả hai đều đã trở thành Tín Đồ Cơ Đốc. Họ là những người có mặt trong cuộc thảm sát 5 vị giáo sĩ. Năm vị giáo sĩ tuy có súng trong tay, nhưng họ không dùng súng để giết hại người Auca khi họ bị người Auca cung kích. Sau khi 5 vị giáo sĩ đã bị giết rồi, xác của họ còn nằm rải rác trên bãi biển, các thổ dân Auca bổng nghe ở trên đầu có tiếng ca rất lớn. Họ ngửng đầu lên nhìn qua những ngọn cây thì thấy có một nhóm người rất đông ở không trung đang lớn tiếng ca hát, tiếng ca của họ hình như “một trăm cây đèn hiệu.” Lúc đó các thổ dân không hiểu đấy là các thiên sứ đang ca hát rước chào các vị giáo sĩ trở về Thiên Đàng. Các thổ dân rất sợ hãi khi nhìn thấy có nhiều người xuất hiện trên bầu trời, họ nghĩ rằng có phải tại vì việc thảm sát đó đã gây ra chuyện kỳ lạ như vậy. Nhưng cảnh tượng này đã in sâu vào trong lòng của Dawa và Kimo, và cũng là cảnh tượng này đã thúc đẩy họ tin vào Chúa Giê-su. Và 5 năm sau cuộc thảm sát này thì Dawa là kẻ đầu tiên trở thành Tín Đồ của Chúa Giê-su trong bộ lạc của họ. Mãi cho đến khi Dawa và Kimo trở thành Tín Đồ Cơ Đốc rồi, thì họ mới hiểu cảnh tượng họ thấy hôm đó là các thiên sứ ca hát đón chào 5 vị giáo sĩ trở về nhà trên Thiên Đàng.
Pete, Ed, Roger, Nate và Jim đã hiến dâng cuộc đời của họ để rao truyền Tin Lành cho dân Waoranis. Khi họ bị giết thì hình như việc làm của họ đã thất bại. Nhưng 33 năm sau, một bộ lạc tàn bạo thì sống hòa hảo với những người dân khác ở lân cận và truyền giảng Tin Lành của Chúa. Theo lời của Dawa và Kimo thì cả công trình này đều bắt đầu từ cảnh tưởng bọn thiên sứ ca hát như một trăm cây đèn hiệu.
Bộ Tân Ước Viết Bằng Ngôn Ngữ Waorani
36 năm sau cuộc thảm sát (tức là năm 1992), thì dân Waorani có bộ Tân Ước đầu tiên viết bằng ngôn ngữ của họ. Trong buổi lễ tạ ơn chúc mừng bộ Tân Ước bằng ngôn ngữ Waorani, người lãnh đạo của dân Waorani nói rằng: “Bây giờ chúng ta không còn sống như trước kia nữa. Trước kia chúng ta chém giết lẫn nhau và cũng giết hại người ngoài nữa, bây giờ chúng ta muốn sống theo lời Chúa Giê-su giảng dạy. Từ hồi tôi còn là một cậu bé nhỏ trong bộ lạc, tôi đã nghe nói rằng chúng ta sẽ được quyển sách này, thì bây giờ ước vọng trong bao nhiêu năm đã thực hiện, chúng ta có quyển Tân Ước này trong tay rồi!”