Qua Ngưỡng Cửa Vinh Hiển

Tiểu Sử Của Năm Vị Giáo Sĩ Trẻ Tuổi

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Đây là câu chuyện về năm vị giáo sĩ trẻ tuổi đã làm chấn động dư luận cả thế giới vào năm 1956. Năm vị giáo sĩ này là người Mỹ, tên của họ là Jim Elliot, Pete Fleming, Ed McCully, Roger Younderian và Nate Saint. Họ đã dấn thân vào tận rừng già Nam Mỹ để tiếp xúc và chia sẻ tình yêu của Chúa Trời cho các sắc dân thiểu số. Những động lực gì đã thôi thúc họ để lại sau lưng một tương lai rực rỡ, đầy hứa hẹn mà đi rao truyền Tin Lành ở một xứ lạc hậu, nghèo nàn như nước Ecuador. Chúa Trời đã làm việc trong cuộc đời của họ như thế nào?

Đầu tiên tôi xin trình bày sơ lược tiểu sử của năm vị giáo sĩ đáng kính này.

Tiểu Sử Của Jim Eliot

Nhờ sự hướng dẫn tốt lành của gia đình, Jim lớn lên trong đường lối của Chúa Trời. Từ khi còn bé, cứ sau mỗi buổi ăn sáng thì cha của Jim thường đọc Kinh Thánh cho bốn người con thân yêu của mình. Ông cố gắng dạy các con mình phải luôn sống theo lời của Chúa Trời. Ông thường mô tả cho các con rằng sự vui mừng là phần thưởng lớn trong cuộc sống của Tín Đồ Cơ Đốc. Những dạy dỗ tốt lành đó đã thấm nhuần và in sâu vào tấm lòng của các con của ông. Jim là người con trai thứ ba trong gia đình, người đã tin vào Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của đời mình ngay khi còn rất trẻ.

Khi lên trung học, Jim muốn noi gương của sứ đồ Phao-lô, quyết tâm “không hổ thẹn vì Tin Lành của Đấng Christ”. Mỗi lần vào lớp học thì người luôn đặt quyển Kinh Thánh ở trên chồng sách của mình. Jim là con người có nghị lực, rất sốt sắng trong công việc của Chúa Trời. Mỗi lần khi người biết rõ ý của Chúa Trời, Jim luôn hết lòng hết sức vâng phục Ngài.

Khi bước vào năm thứ nhất đại học, Jim cố giới hạn những hoạt động ngoài chương trình học vấn, vì người không muốn vướng bận với những việc ít quan trọng mà lỡ đi những việc tối quan trọng. Lên năm thứ hai, sau khi nhận biết rằng Chúa Trời sẽ hướng dẫn mình đem Tin Lành đến các xứ Nam Mỹ, thì ngay lập tức Jim đi học tiếng Tây-ban-nha, là thứ ngôn ngữ chính của vùng Nam Mỹ. Cùng một lúc, Jim cũng học tiếng Hy Lạp để giúp cho việc phiên dịch Kinh Thánh trong tương lai.

Sắp lên năm cuối của đại học, Jim ghi lại trong quyển nhật ký của mình rằng: “Xin Chúa hãy khiến con trở thành nhiên liệu của Ngài, ngọn lửa của Chúa Trời.” Trong cuối năm chót, Jim tham dự một kỳ đại hội truyền giảng tổ chức tại trường đại học Illinois, đó là dành cho các sinh viên có ý định dấn thân vào công việc truyền giảng Tin Lành ở nước ngoài. Trong thời gian đó, Jim cầu nguyện xin Chúa Trời cho biết ý muốn của Ngài trong đời của mình. Vào cuối mùa hè 1950, cũng là vào lúc cao điểm của sự cầu nguyện và tìm cầu ý của Chúa Trời, Jim gặp một vị giáo sĩ đến từ xứ Ecuador. Sau đó, Jim dành trọn 10 ngày chăm chú vào việc cầu nguyện để khẳng định rõ ràng về ý muốn và sự hướng dẫn của Chúa Trời trong việc đi truyền giảng Tin Lành ở Ecuador.

Tiểu Sử Của Pete Fleming

Pete sanh trưởng ở Seatle, thuộc tiểu bang Washington. Vào năm 13 tuổi, người tin vào Chúa Giê-su sau khi nghe lời làm chứng của một vị giáo sĩ mù. Khi Pete lên trung học, người muốn bắt chước Hê-nóc “đi cùng với Đức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 5:22, 24). Khi vào đại học Washington, Pete chọn triết học làm môn học chính. Bởi thế, có một lúc Pete phân vân và lẫn lộn trước vô số lý thuyết triết học và tư tưởng xung đột lẫn nhau. Nhưng cuối cùng Chúa Trời là Đấng chăn giữ linh hồn, Ngài đã đưa Pete trở về với lời hằng sống. Pete rất siêng năng và chăm học, cho dù phải vừa đi làm vừa học và có bận làm sao đi nữa người vẫn ráng tranh thủ thời giờ để cầu nguyện và học tập lời của Chúa. Ngay sau khi đậu bằng cao học văn chương, Pete cố gắng tìm cầu sự hướng dẫn của Chúa Trời, thì người gặp lại người bạn xưa là Jim Elliot. Hai người giữ liên lạc với nhau và sau cùng Pete quyết định sẽ phụng sự Chúa Trời ở Ecuador. Điều này đã làm cho các bạn cùng khóa vô cùng kinh ngạc. Vào tháng 2 năm 1952, Jim và Pete đi bằng đường biển đến Guayaquil là thành phố lớn và tân tiến nhất của Ecuador. Họ ở tạm chỗ đó một đêm, hôm sau hai người lấy máy bay đi đến Quito, thủ đô của xứ Ecuador.

Tiểu Sử Của Ed McCully

Ed là con trai lớn trong gia đình, cha của Ed là người quản trị của một hãng bánh ở tiểu bang Milwaukee của nước Mỹ. Cha của Ed rất sốt sắng tham dự vào công việc truyền giảng Tin Lành. Cha của Ed đã có dịp đi khắp cả nước Mỹ và nắm lấy mỗi một cơ hội để làm chứng về Chúa Trời cho những hiệp hội thương mại và các nhóm Tin Lành ở khắp nơi. Khi Ed vào trường đại học Wheaton, người chọn học ngành kinh tế và doanh thương. Lúc ấy người chưa có ý định dự vào công việc truyền giảng Tin Lành ở nước ngoài. Con người Ed to lớn, lực lượng, cao khoảng 1.87m, nặng hơn 87 kí-lô, là một cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất của đội bóng đá trường đại học Wheaton. Nhưng Ed nổi bật nhất là môn thuyết trình, cho dù người chưa được huấn luyện chính thức về môn này, người đoạt giải nhất trong một cuộc tranh tài hùng biện toàn quốc ở San Francisco. Cuộc tranh tài hùng biện này có hơn 10,000 sinh viên tham dự. Năm sau Ed ghi tên vào học trường luật ở đại học Marquette. Ở Bắc Mỹ, môn luật là ngành học rất tuyển chọn và rất ít người được nhận, có khi còn khó vô hơn ngành y khoa nữa. Vào đầu năm thứ hai, Ed xin làm việc ban đêm ở một khách sạn. Tại vì buổi tối thường ít việc, Ed có thể dùng khoảng thời gian đó để ôn bài. Nhưng Chúa Trời đã sắp đặt sẵn một chương trình kỳ diệu cho cuộc đời của Ed. Từ khi bắt đầu làm việc, thay vì ôn bài thì Ed lại dùng thời gian đó học tập lời của Chúa. Điều này hẳn đã ảnh hưởng cuộc đời của Ed rất lớn. Đúng một ngày trước thời hạn ghi tên cho khóa mới, Chúa Trời đã làm một việc kỳ diệu trong lòng của Ed. Thay vì ghi tên đóng học phí với số tiền mình có, thì lòng của Ed được Chúa Trời cảm động, người quyết định không ghi danh học tiếp ngành luật nữa. Trong lá thư gởi cho Jim Elliot, Ed viết rằng: “Cách đây hai hôm, mình còn là sinh viên trường luật được mọi người nể trọng, nhưng giờ đây mình trở nên một người tầm thường không có gì cả. Cảm ơn bạn đã cầu thay cho tôi. Tôi cũng sẽ ghi nhớ cầu nguyện về chuyến đi Ecuador của bạn. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho nhau vì tôi cũng rất ao ước có thể đi Ecuador như bạn vậy.”

Để trang bị cho chuyến đi, vào năm 1951, Ed xin vào trường y tế truyền giáo ở Los Angeles. Người hết lòng học tập những môn bịnh nhiệt đới, cách chữa trị, về nha khoa và sản khoa. Ed được huấn luyện về những nguyên tắc y khoa căn bản và cần thiết để giúp những người dân bản xứ và cho chính gia đình của mình. Sau đó, vào tháng 12 năm 1952, Ed cùng với bà vợ là cô Marilou và Steve là đứa con được tám tháng, cùng đón tàu đi xứ Ecuador, là nơi mà Chúa Trời đã hướng dẫn người và gia đình đi rao truyền Tin Lành.

Tiểu Sử Của Nate Saint

Nate sinh trưởng trong một gia đình sống theo những nguyên tắc trong Kinh Thánh. Cha mẹ Nate dạy dỗ các con có kỷ luật lắm, nhưng không khí trong gia đình lại rất vui sướng. Rachel, chị của Nate tựa như người mẹ tí hon, thường đọc cho em nghe những sách nói về công việc truyền giáo ở các nước Phi Châu, Nhật Bổn, Ấn Độ và Nam Mỹ. Điều này đã in sâu trong tâm trí thơ ấu của Nate. Tuy không hề nghĩ rằng mình sẽ trở thành một người truyền giáo, nhưng Nate ước ao một ngày nào đó, mình có thể làm chứng về Chúa Trời cho những ai chưa hề được nghe về Tin Lành.

Vào năm 7 tuổi, Nate được Sam, người anh cả cho đi lên phi cơ. Được bay lượn trên không trung, bắt đầu từ đó những cánh phi cơ và khung trời mênh mông đã thu hút tâm hồn của cậu bé. Vào năm 10 tuổi, Nate mắc phải một chứng bịnh ngặt nghèo ở chân và bị bắt buộc phải ngưng tất cả những hoạt động, vì vậy mà Nate có nhiều thì giờ suy nghĩ và tự hỏi có phải Chúa Trời muốn mình trở nên một nhà truyền giáo chăng. Trong những năm trung học, Nate thường mơ tưởng về phi cơ và khung trời bao la bát ngát. Xong trung học, Nate xin vào làm việc tại một phi trường nhỏ và cùng lúc đó người học lái phi cơ hạng nhẹ. Sau một khoảng thời gian, Nate xin ghi danh vào trường sĩ quan không quân. Đây là cơ hội bằng vàng cho người, vì bấy lâu nay, Nate hằng mơ ước được lái những chiếc phi cơ quân sự to lớn và đầy năng lực. Nhưng giấc mơ của Nate chóng tiêu tan khi bịnh của người tái phát. Sự kiện xảy ra quá bất ngờ làm cho lòng của người tan nát vì không còn cơ hội học lái phi cơ cỡ lớn. Người trở nên chán nản vô cùng. Sau khi rời khỏi bịnh viện, Nate được giao cho chức vụ trưởng nhân viên bảo trì trong không quân. Trong công việc này, người có thời giờ để xem lại quyển Kinh Thánh mà người đã bỏ quên từ lâu.

Một năm sau, trong một buổi lễ thờ phượng vào đêm giao thừa, Chúa Trời làm việc thật mãnh liệt trong lòng của người. Lúc ấy, Nate khẩn thiết cầu xin Đức Cha trên trời cất đi những gì ngăn trở để người có thể đón nhận sự bình an mà Chúa hứa ban cho. Và “đùng một cái”, Nate tựa như nhìn vào mọi sự với đôi mắt khác. Lần đầu tiên người thật sự hiểu được câu Kinh Thánh: “Hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” Và cùng lúc, Nate nhìn vào lối sống xưa cũ của mình và nhận thấy cứ chạy theo cuộc đời tạm bợ này thật là một điều rồ dại.

Nate nghĩ rằng người sẽ từ giã nghiệp phi hành để trở lại trường để được trang bị cho việc phụng sự Chúa Trời. Nhưng vào lúc đó Nate biết đến “Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không” (Missionary Aviation Fellowship viết tắt là MAF). Chẳng bao lâu, Nate gặp hai cựu phi công hải quân thiết lập hiệp hội này. “Giáo sĩ phi hành”, đây thật là công việc lý tưởng, gần như đặc biệt sửa soạn cho Nate vậy. Nate bắt đầu luyện tập trở lại cách lái phi cơ hạng nhẹ. Vào tháng 7 năm 1946 công việc đầu tiên của Nate với Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không là đi Mexico để sửa chiếc máy bay bị hư khi đáp xuống. Vào mùa đông 1947 – 1948, người ghi danh học ở đại học Wheaton. Nhưng thời gian học tập bị cắt ngắn lại vì Ecuador đang cần phi công. Và vào tháng 9, Nate và một người phi công của Hiệp Hội Giáo Sĩ Hàng Không bay đi Ecuador.

Tiểu Sử Của Roger Younderian

Roger sinh tại Montana, là người con thứ bảy của một gia đình có trại chăn nuôi súc vật. Từ nơi mẹ, người được dạy dỗ tận tường trong đường lối của Chúa Trời. Vào năm chín tuổi, Roger mắc bịnh tê liệt (polio). Lên trung học, người khắc phục được ảnh hưởng của bịnh bại mà có thể chơi bóng rỗ. Hết trung học, Roger vào đại học “Montana State College” với ba học bổng và dự tính trở thành giáo sư canh nông. Năm 1942 Roger được chọn làm sinh viên thứ nhất xuất sắc nhất, nhưng tháng 10 năm 1943 Roger quyết định nhập ngũ và sau cùng người trở thành lính nhảy dù.

Trong một bức thư gởi mẹ, Roger nói rằng: “ngày vui mừng nhất trong đời là lúc con tin vào Chúa Giê-su. Khi con thật sự ăn năn và tin vào Chúa Giê-su làm Cứu Chúa thì con kinh lịch được sự tha thứ của ngài. Tìm hiểu lời Kinh Thánh là nguồn hy vọng và vui thú lớn nhất của con.”

Năm 1944 Roger sống sót sau lần nhảy dù ở Rhine và được tuyên dương công trạng về trận chiến ở Bulge, và người bắt đầu ngẫm nghĩ về việc hiến dâng trọn vẹn cuộc đời của mình cho Chúa Trời. Vào tháng 8 năm 1945, từ Bá-linh ở Đức, người viết thư cho mẹ: “Con có một bí mật muốn nói cho mẹ nghe. Mùa thu vừa qua, từ lúc tin vào Chúa Giê-su con ước mong làm tròn ý muốn của ngài. Hiện giờ con không biết Chúa Trời sẽ kêu gọi con làm gì, nhưng con ước ao làm chứng cho Chúa Giê-su và bước đi theo ngài.” Vào năm 1946, sau khi khẳng định Chúa kêu gọi mình đi rao truyền Tin Lành, Roger trở lại trường Northwestern để học. Nơi đây người gặp Barbara Orton đang học ngành “giáo dục Tin Lành” với ý định truyền giáo. Hai người quen biết và kết thân với nhau. Tháng 9 năm 1950, hai người cùng ghi tên học khóa “y tế truyền giáo”, và đúng một năm sau thì họ thành hôn với nhau. Năm 1953, Roger và Barbara cùng đứa con 6 tháng Beth Elaine lên đường đi Ecuador.

Năm Vị Giáo Sĩ Bị Thảm Sát Bởi Thổ Dân Auca

Công Việc Rao Truyền Tin Lành Cho Người Auca 

Ecuador là một nước ở Nam Mỹ, theo chánh thể cộng hòa. Thủ Đô Quito nằm sát dưới Xích Đạo. Năm vị giáo sĩ đều từng sống ở Quito một khoảng thời gian. Họ tiến về khu rừng phía đông, vượt qua những ngọn núi thuộc dãy Andes cao ngắt, rồi lại lặn lội xuống khu “rừng mưa”. Muốn đi đến đó, họ chỉ có thể lựa chọn một trong hai phương tiện di chuyển: hoặc đi bằng một loại phi cơ thương nghiệp nhỏ, chuyến bay thì mỗi tuần chỉ có một lần, hoặc đi bằng một loại xe lửa mà giờ khởi hành không nhất định. Hai thầy Jim và Pete đã chọn đường bộ trong chuyến đi đầu tiên vào khu rừng rậm. Đường xe rất gồ ghề, nhưng phong cảnh thì tuyệt đẹp.

Tại địa điểm Bãi Dừa (Palm Beach) là nơi mà 5 vị giáo sĩ đang chờ đợi những người thổ dân Auca xuất hiện. Một trong những việc đầu tiên mà các thầy phải làm là lựa chọn một thân cây để xây một căn nhà. Nhà được dựng lên cách mặt đất khoảng chín thước, điều này bảo đảm sự an ninh vào đêm, đặc biệt là khi ngọn đèn dầu được đốt ở dưới thân cây làm sáng tỏ cả khu vực.

Auca là một bộ lạc hung tợn khét tiếng, chưa hề có người ngoài thăm viếng, nếu có ai viếng thăm thì chắc khó mà toàn mạng sống trở về. Sau những lần trao đổi quà và những thông điệp, những đám ứng thiện cảm của người Auca đã khuyến khích các vị giáo sĩ tiến triển công việc gặp gỡ với dân Auca hầu chia sẻ Tin Lành của Chúa Giê-su cho họ.

Thầy Nate tìm nơi có thể làm bãi đáp cho phi cơ. Để chuẩn bị, thầy đã phải mất sáu chuyến bay để chuyên chở tất cả các vật dụng cần thiết đến Bãi Dừa. Vào ngày 2 tháng giêng năm 1956, năm vị giáo sĩ đã đặt chân lên Bãi Dừa.

Đang khi các thầy ở trên bãi, thì Betty là vợ của thầy Jim ở tại tram Shandia đón nghe tin tức về Bãi Dừa. Cứ mỗi chuyến bay của thầy Nate, thì Marjorie vợ của thầy Nate đều đi ra ngoài để quan sát thời tiết, và bà sẽ cho thầy Nate biết tình hình khí tượng trước khi phi cơ đáp xuống. Nếu không có những phương tiện thông tin qua làn sống ngắn radio thì chương trình phi hành sẽ không thể thực hiện được.

Cuộc Gặp Gỡ Đầu Tiên Với Người Auca

Vào thứ sáu, ngày 6 tháng giêng năm 1956, sau ba ngày chờ đợi trên bãi, các vị giáo sĩ thấy ba người Auca xuất hiện, một người đàn ông và hai người đàn bà. Cả ba đều khá trẻ. Các thầy đặt tên cho họ, người đàn ông là “George”. Lẽ tất nhiên, đôi bên đều không hiểu nhau, chỉ trừ vài tiếng mà thầy Jim đã học được từ một phụ nữ người Auca. Chàng “George” xem có vẻ rất tự nhiên. Anh lấy làm thích thú về phi cơ, thậm chí anh ta còn xin được bay một vòng, khi bay đến ngôi làng mình, anh ta vui mừng cười khúc khích và còn nghiêng mình ra ngoài để vẫy tay và kêu lớn tiếng khi thấy những khuông mặt quen thuộc. Trở về Bãi Dừa thì George nhảy xuống phi cơ và vỗ tay mừng rỡ. Còn “Delilah”, một trong hai người đàn bà Auca trẻ tuổi thì mê say về cách cấu tạo của phi cơ. Cô cọ xát người vào thân phi cơ và dùng cánh tay mình bắt chước cách bay lượn. Thầy Nate bèn trao tặng cho cô một chiếc phi cơ kiểu mẫu nhỏ, cô ta vui sướng tiếp nhận món quà này.

Các giáo sĩ thấy George đặc biệt để ý đến chiếc phi cơ, họ cố gắng giải thích cho anh hiểu cách xây một bãi đáp tại ngôi làng anh. Lúc đầu George không hiểu danh từ “cây” mà các thầy nói bằng tiếng Auca. Cuối cùng khi anh hiểu ý, anh giúp họ sửa cách phát âm cho đúng. Các thầy cặm vào bãi cát những khúc củi tượng trưng cho những “thân cây” chưa đốn đi. Với chiếc máy bay kiểu mẫu nhỏ, thầy Nate cho George thấy rằng phi cơ sẽ bị rớt và đâm vào những thân cây. Rồi các thầy diễn lại cảnh này, nhưng lần này dùng những dao dài để đốn “thân cây” mà xây bãi đáp. Các vị giáo sĩ cũng cho ba người khách coi những vật kỳ lạ tân tiến. Ba người Auca này trông rất bình tĩnh, thoải mái và tự nhiên. Họ có vẻ hồn nhiên và thân thiện. Các thầy mong rằng họ được mời đi thăm viếng ngôi làng Auca. Vào buổi chiều tối, ba người khách rời khỏi Bãi Dừa. Các thầy trông đợi họ trở lại.

Vào trưa Chúa Nhật, ngày 8 tháng giêng 1956, thầy Nate báo tin cho bà vợ là Marjorie biết rằng trên phi cơ thầy đã nhìn thấy một đoàn mười người Auca đang đi trên đường. “Không chừng họ sẽ đến Bãi Dừa vào buổi chiều hôm nay. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi.” Thầy Nate cảm thấy đây là thời điểm Chúa Trời đã chọn để họ gặp gỡ người Auca, và thầy hẹn sẽ liên lạc với bà vợ vào lúc 4 giờ 30 chiều.

Đúng 4:30 chiều ở trạm Shell Mera, Marjorie bật máy thu làn sóng ngắn chờ đợi tin tức. Đây là thời điểm trọng đại, bà tự nhủ và hỏi: “Không biết các thầy có được mời đến thăm viếng ngôi làng Auca không? Có những diễn tiến gì mà Nate sẽ thông báo cho tôi biết nữa đây?” Nhưng máy không nhận được dấu hiệu nào cả. “Đồng hồ của Nate có đi trễ không?” Marjorie và Olive vợ thầy Pete Fleming nóng lòng chờ đợi. Ở Arajuno, hai bà Marilou vợ thầy Ed và Barbara vợ thầy Roger liên lạc với Shell Mera. Nhưng hoàn toàn yên lặng!

Thời gian trôi qua, 5 phút, 10 phút… Chẳng lẽ họ lo tiếp đón đến nỗi quên liên lạc với vợ sao? Vô lý quá, chuyện gì đã xảy ra? Sự gặp gỡ với người Auca đã diễn ra như thế nào?

Chuyện Gì Đã Xảy Ra Trên Bãi Dừa

Không chừng radio của các thầy không chạy, điều này đôi khi cũng xảy ra. Những người vợ nắm lấy từng tia hy vọng nhỏ, họ không muốn nghĩ đến những chuyện không may. Ở Arajuno, Barbara và bé Beth Youderian có vẻ phấn khởi hơn một chút, vì theo dự tính thì thầy Roger sẽ đến Arajuno tối nay. Chắc chắn chiếc máy bay tí hon sẽ xuất hiện ở trên đỉnh cây trước khi mặt trời lặn. Barbara và Beth cứ đi tới đi lui dọc theo bãi đáp, chờ đợi.

Thứ hai, ngày 9 tháng giêng, 1956, vào lúc 7 giờ sáng, Johnny Keenan, bạn của Nate Saint trong “Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành” bay về phía Bãi Dừa. Trong lúc đó Marjorie gọi Betty vợ thầy Jim ở Shandia qua máy radio làn sóng ngắn cho biết rằng: “Hoàn toàn không nhận được tin tức gì của các thầy từ trưa hôm qua đến giờ.” Betty biết rằng chắc có điều gì không hay xảy đến. Một câu Kinh Thánh mà Chúa Trời đã in sâu vào tâm trí của bà khi mới đến Ecuador đột nhiên trở lại một cách rõ rệt: “Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng ngươi, và khi qua các sông, chúng sẽ không tràn ngập ngươi…” Betty lên trên lầu tiếp tục giảng dạy lớp đọc và viết cho các chị em thổ dân, vừa im lặng cầu nguyện: “Chúa ơi, chớ để các dòng nước tràn lấp con.”

Vào khoảng 9 giờ rưởi, Marjorie vợ thầy Nate cho biết tường trình của Johnny. Chiếc phi cơ màu vàng đã được tìm thấy trên bãi, tất cả những lớp vải bọc cánh đều bị xé đi, và hoàn toàn không thấy bóng người.

Tối hôm đó các nhân viên quyết định tổ chức một toán cứu cấp đường bộ. Frank Drown là một giáo sĩ bạn của Roger, thầy làm việc trong bộ lạc Jivaros, thầy có 12 năm kinh nghiệm về đi rừng, cho nên thầy sẽ hướng dẫn toán đó. Bác sĩ Art Johnston, một vị y sĩ liên hệ với đài radio truyền giáo ở Quito, thủ đô của Ecuador, cũng tình nguyện cùng đi để lo về vấn đề y tế. Mười ba binh sĩ Ecuador cũng xin tham dự.

Thứ tư, Johnny Keenan lại bay một lần nữa trong chiếc phi cơ thứ hai của Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành về hướng Bãi Dừa để xem có dấu hiệu sự sống gì không. Marjorie đang túc trực chờ Johnny báo cáo, từ chiều Chúa Nhật đến giờ bà gần như chưa hề rời máy radio. Barbara, Olive vợ của thầy Pete và Betty đang ở trên lầu. Bất thình lình, Marjorie kêu lên: “Betty! Barbara! Olive!” Betty vội chạy xuống lầu, Marjorie đang đứng đó và đầu dựa vào radio, mắt bà nhắm lại. Sau một hồi, bà nói: “Johnny thấy một xác chết.”

Cách nơi chiếc phi cơ truyền giáo màu vàng khoảng hơn 400 thước, Johnny nhìn thấy một cái xác nổi lên trên sông, mặt úp xuống, mặc quần kaki và áo T-shirt trắng, đó là đồng phục quen thuộc của các thầy. Barbara nhận thấy đây không phải là Roger, vì thầy Roger mặc quần jeans màu xanh dương. Tiếng radio lại vang lên, lại nhìn thấy một cái xác khác, khoảng 70 thước ở phía dưới Bãi Dừa. Mọi người đều không biết hai cái xác đó là ai.

Thứ năm, sau khi cắm trại qua đêm tại Oglan, toán cứu cấp đường bộ khởi hành và tiến vào một cách thận trọng dọc theo sông Curaray hướng về Bãi Dừa. Một nhóm khác là thổ dân Quichuas trong hai chiếc xuồng tiến lên từ hạ lưu của con sông, nhắm về hướng của toán cứu cấp. Họ là một nhóm thổ dân thuộc trạm của thầy McCully tại Arajuno. Họ đã chủ động và can đảm đi trước mọi người tiến vào Bãi Dừa thuộc lãnh thổ của bộ lạc Auca.

Khi một Tín Đồ trong nhóm thổ dân Quichuas này báo tin cho biết đã tìm thấy xác của thầy Ed ở trên bãi ngay tại mé nước, mọi người đều đau lòng. Anh Tín Đồ thổ dân này đem theo đồng hồ đeo tay của Ed. Bấy giờ các giáo sĩ trong toán cứu cấp biết rõ một trong hai người đã gục ngã là ai, nhưng họ nghĩ rằng vẫn còn hy vọng, không chừng ba người kia có thể sống sót. Họ tiếp tục cuộc hành trình. Tối đó, họ dừng lại và cắm trại ở El Capricho là nơi dân Auca đã từng giết vài người. Họ dựng lên vài cái chòi lá nhỏ, đặt toán canh gác gồm 2 vị giáo sĩ, hai binh sĩ Ecuador và hai thổ dân Quichuas.

Trong ngày đó, thiếu tá không quân Nurnberg của toán đường bay trong chiếc trực thăng quân sự đáp xuống Bãi Dừa trước tiên. Ông nhảy xuống và nhìn chung quanh, những giây phút lo lắng trôi qua, ông điện về: “Không có ai ở đây cả.” Trực thăng lại cất cánh, bay chậm dọc theo con sông, qua bên kia bờ rồi dừng lại. Mấy phút sau, ông lại tiếp tục tiến lên và dừng lại khoảng 200 thước xa hơn. Rồi lần thứ ba và lần thứ tư nữa, trực thăng như treo bất động cách mặt nước khoảng bốn thước. Bốn lần ngừng lại là bốn lần mục kích những cảnh đau lòng. “Chúng tôi đã tìm thấy bốn xác chết trong con sông.” Thiếu tá Nurnberg cho biết. Còn xác của Ed mà thổ dân Quichuas thấy thì lúc đó không còn trên bãi nữa. Không chừng đã bị đẩy trôi đi bởi cơn mưa và dòng nước lớn tối hôm qua.

Sáng thứ sáu toán đường bộ tiếp tục chặng đường cuối cùng để đến Bãi Dừa. Họ thấy chiếc phi cơ truyền giáo màu vàng với đôi cánh bị xé và lột đi, và những xác chết nằm dọc theo bờ sông. Khung cảnh thật là kỳ quái. Một cơn giông to kéo đến dưới bầu trời nhiệt đới. Mưa trút xuống như nước đổ. Các vị giáo sĩ trong toán cứu cấp rất mệt mỏi, họ nhìn lần chót những người bạn của họ mà thân thể không còn nhận ra được là ai. Một vị nói: “Như vậy tốt hơn, tôi cảm thấy đỡ đau đớn.”

Liền sau lễ mai táng, thiếu tá Nurnberg hướng dẫn toán cứu cấp đường bộ ra khỏi nơi nguy hiểm. Chiếc xuồng chở đầy người và di vật của các vị giáo sĩ tử nạn từ từ rời Bãi Dừa. Vừa đi đường bộ lẫn đường sông, khi xuyên qua lãnh địa của dân Auca, tay của mọi người đặt trên cò súng, những đôi mắt nhìn cách khẩn trương quan sát khu rừng chung quanh.

Thứ bảy, khoảng trưa đoàn người vượt ra khỏi ranh giới của người Auca một cách an toàn. Họ ngủ đêm tại một nơi cách Arajuno 6 tiếng đồng hồ bằng đường bộ. Hôm sau, 3 giờ chiều Chúa Nhật họ về đến Arajuno, mang theo những bộ phận còn lại của chiếc phi cơ cùng với những cây lao đã giết hại các vị giáo sĩ mà họ đã tìm thấy trên Bãi Dừa.

Tâm Linh Tôi Yên Ninh Thay

Tại trạm truyền giáo Shell Mera, những bà vợ của năm vị giáo sĩ tử nạn đang chờ đợi. Qua thông tin của máy radio, họ đều biết rằng các thầy đã bỏ mạng. Nhưng họ muốn biết rõ mọi chi tiết. Thiếu tá Nurnberg bắt đầu kể những gì ông biết cho bà Marjorie vợ thầy Nate trong khi hai bà Olive và Barbara đứng nhìn. Sau đó mọi người đều tụ lại trong nhà bếp. Mở sổ tay của ông ra, thiếu tá Nurnberg kể lại những gì ông đã thấy: “Một xác chết vướng ở dưới nhánh của một cây ngã xuống, chỉ thấy một bàn chân mang vớ màu xám hiện ra ở trên mặt nước. Vị này mang một dây nịt lưng màu đỏ với loại chỉ đan.” Cặp mắt của bốn người vợ cùng nhìn về phía Olive Fleming. “Đó là Pete,” Olive nói một cách ngắn ngủi. “Một xác khác mặc T-shirt và quần jeans màu xanh.” Chỉ có mình Roger mặc quần jeans. Rõ ràng cả năm vị giáo sĩ đều bị những cây lao đâm vào thân thể mà chết đi. Trên thân ngọn lao đâm vào thân thể của Nate Saint có quấn một tờ truyền đạo đơn mà các thầy đã thả xuống cho người Auca. Gần chỗ tìm thấy thân thể của Jim Elliot thì có một cây lao phóng và cắm ở lòng sông.

Các khuôn mặt của 5 người góa phụ trẻ tuổi mang vẻ sầu tư và mòn mỏi, nhưng không hề có sự than trách hoặc tự thương hại. Steve, đứa con trai 3 tuổi của Nate Saint đang đứng ở ngoài hành lang, em có vẻ không hiểu chuyện gì đã xảy đến cho ba của mình, và chắc không nhận thức được điều mỉa mai về con két đang đậu kế bên. Con két đó là món qua mà người Auca đã tặng cho các thầy truyền giáo.

Sau cùng, phái đoàn quân sự rời khỏi một cách lặng lẽ. Hung tin họ mang đến đã được đón nhận một cách trầm tĩnh. Barbara viết lại:

“Chúa Trời cho tôi câu Kinh Thánh này cách nay hai hôm, Thi Thiên 48:14: “Vì Đức Chúa Trời này là Chúa của chúng ta đời đời vô cùng, Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta cho đến chết.” Khi tôi phải đối diện với hung tin của Roger, lòng tôi tràn đầy sự ngợi khen Chúa, vì Roger đã đến đây để làm theo ý muốn của Chúa, nên Ngài đã gìn giữ tâm hồn chúng tôi trong cơn đau buồn, khủng khiếp. Ngài còn khiến lòng chúng tôi tràn đầy sự bình yên hoàn toàn của Chúa.”

Không ai biết rõ chuyện gì đã xảy ra trên bãi, và tại sao sự gặp gỡ có vẻ thân thiện lúc đầu đã trở thành một cuộc thảm sát. Tại sao? Tại sao? Rất nhiều câu hỏi cần được nêu ra nơi đây: Tại sao thảm kịch này lại xảy ra? Rõ ràng các vị giáo sĩ này đã dấn thân trong đức tin để rao truyền Tin Lành, tại sao Chúa lại không bảo vệ họ? Đức Chúa Trời của họ ở đâu rồi? Còn công việc rao truyền Tin Lành giữa người Auca thì ra sao, có phải đã kết thúc với màn cuối của vở thảm kịch này chăng?

Tiếp Tục Công Việc Rao Truyền Tin Lành Cho Người Auca

Cầu Nguyện Cho Người Auca

Thư từ ở khắp nơi gửi về cho 5 vị quả phụ. Một bức thư từ một trường trung học bên Nhật Bổn nói rằng: “Chúng tôi đang cầu nguyện cho các vị”; có bức thư từ một nhóm các em trường Chúa Nhật người Eskimo ở Alaska; từ một Hội Thánh người Hoa ở Houston; từ một người truyền giáo ở vùng sông Nile của nước Ai-cập. Trên khắp thế giới người ta bắt đầu cầu nguyện cho người Auca. Chỉ trong tương lại ở cõi đời đời vô tận, chúng ta mới đếm được tất cả những lời cầu nguyện đã dâng lên cho những người quả phụ và con cái của họ, và cho công việc rao truyền Tin Lành mà 5 vị giáo sĩ đã bắt đầu.

Tiếp Tục Công Việc Của Các Vị Giáo Sĩ Tử Nạn

Nhiều kế hoạch được soạn ra tức thì để tiếp tục công việc của các thầy. Trạm ở Arajuno đã được chuẩn bị sẵn sàng trong trường hợp dân Auca tìm đến để liên lạc giao hảo. Những chuyến bay chở quà tặng cho người Auca được Johnny Keenan tiếp tục, hầu cho người Auca biết chắc rằng những người da trắng này chỉ có ý định thân thiện thôi. “Trả thù ư?” ý tưởng này chưa hề xảy đến trong tâm trí của các người vợ trẻ mất chồng hay các người giáo sĩ khác.

Bà Barbara vợ của thầy Roger dắt theo hai đứa con nhỏ trở về tiếp tục công việc giữa người Jivaros. Còn Betty vợ thầy Jim thì trở về Shandia với đứa con gái Valerie lúc ấy mới được mười tháng để tiếp tục công việc ở trạm Quichuas. Marjorie vợ thầy Nate đảm nhận một công việc mới ở Quito. Chỉ vài tuần lễ sau cái chết của chồng, bà Marilou vợ của thầy Ed về Mỹ sinh đứa con thứ ba. Sau đó, cùng các con, bà Marilou trở lại Ecuador làm việc chung với Marjorie vợ thầy Nate ở Quito. Về phần bà Olive, khi chồng của bà là Pete tử nạn, bà vừa mới đến và sống ở trong khu rừng được hai tháng. Về tương lai của bà Olive thì vấn đề khó khăn hơn. Tuy vậy, một điều bà biết chắc là, cũng như chồng mình, cuộc sống của bà thuộc về Chúa Trời và Ngài sẽ hướng dẫn đường lối cho bà.

Bà Betty Cũng Cầu Nguyện

Bà Betty cầu nguyện xin Chúa Trời mở đường, nhưng bà không biết phải đề nghị điều gì. Bà cũng xin Chúa Trời hãy sai một người đầy tớ của Ngài đến với người Auca để kể cho họ biết rằng 5 vị giáo sĩ chỉ muốn đến để giúp họ nhận biết Đức Chúa Trời, Ngài đã sáng tạo ra họ, và Ngài cũng thật sự quan tâm họ, Ngài là Đấng xứng đáng được họ tin tưởng vào. Lúc ấy bà cũng nói, nếu Chúa Trời muốn, bà sẵn sàng đi làm công việc này. Nhưng điều này xem có vẻ phi lý, nếu 5 vị giáo sĩ đã bị giết, thì thử hỏi ai lại có thể thành công. Tuy vậy bà Betty biết rằng Đức Chúa Trời có thể làm điều này nếu Ngài muốn, và đây mới chính là lý do để cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là một điều vô ích.

Dayuma, Mintaka và Mankamu

Tháng 11 năm 1957, lúc Betty đang ở trạm Arajuno của thầy McCully lúc trước, hai thổ dân Quichuas đến từ sông Curaray báo tin cho bà biết rằng có hai người đàn bà Auca vừa rời bỏ bộ lạc mà đi thẳng vào làng của người Quichuas và hiện đang ở tại nhà họ. Betty ngay lập tức cùng đi để gặp họ. Hai người đàn bà Auca đó tên là Mankamu và Mintaka. Ít lâu sau, hai cô này cùng Betty trở về Shandia. Cô Rachel Saint, chị của thầy Nate, cũng chia sẻ với Betty những tài liệu quý giá về ngôn ngữ Auca. Cô Rachel đã học tiếng Auca từ một người phụ nữ người Auca tên là Dayuma. Cô Auca này đã ở chung với Rachel được nhiều năm rồi. Betty mới dùng những tài liệu này làm nền tảng và bắt đầu học tiếng Auca với hai người phụ nữ Mintaka và Mankamu.

Betty không ngừng cầu nguyện xin Chúa Trời dẫn dắt họ đi vào bộ lạc Auca. Một ngày kia, khi Dayuma, Mintaka và Mankuma gặp nhau, họ quyết định sẽ về thăm nhà. Có người nói với Dayuma rằng: “Mẹ của cô vẫn còn sống, bà ấy muốn cô trở về nhà.” Thế rồi họ trở về bộ lạc Auca. Cô Rachel và bà Betty chờ đợi họ.

Lời Cầu Nguyện Được Nhận

Trong thời gian thăm nhà, các cô Auca này nói về những người xa lạ tốt lành rất đáng kính mến. Các cô này đã thuyết phục được người Auca rằng có những người ở ngoài bộ lạc rất tốt, ấy là những người muốn đến sống với người Auca để kể cho họ biết về Giê-su, ngài là một người tốt. Họ cần phải nghe những câu chuyện của Giê-su và học cách nói chuyện với Đức Chúa Trời, học cầu nguyện. Sau cùng họ nói rằng: “Vâng, hãy để những người ngoài đến, chúng tôi không cần phải giết nữa đâu.” Khi Dayuma, Mintaka và Mankamu trở lại Arajuno, họ dẫn theo bảy người Auca. Họ mời Rachel, Betty và Valerie, đứa con gái nhỏ của Betty cùng đến sống tại bộ lạc Auca.

Bà Betty và Cô Rachel đã cầu nguyện xin điều này, nhiều người khác cũng cầu nguyện xin điều đó nữa. Betty nghĩ tới những lời của tiên tri Êsai 50:7: “Vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ giúp tôi, nên tôi chẳng bị bối rối, bởi vậy tôi làm mặt tôi cứng như đá, vì biết mình sẽ chẳng bị hổ thẹn.” Họ biết đây là việc làm của Đức Chúa Trời, nên họ đi.

Tháng 10 năm 1958, hai năm rưởi sau khi các vị giáo sĩ bị giết, Betty cùng với em bé Valerie và Cô Rachel bắt đầu đi vào xứ Auca qua phương tiện và sự giúp đỡ của người Quichuas. Chuyện gì sẽ xảy ra? Người Auca tiếp đón cô Rachel, Valerie và bà Betty như thế nào? Họ sống như thế nào tại làng Auca? Liệu họ có thể thích ứng với đời sống mới của nền văn minh thời kỳ đồ đá hay không? Tin Lành được rao truyền như thế nào?

Giáp Mặt Với Người Auca

Ở đó bà Betty, Valerie và cô Rachel giáp mặt với người Auca. Người đầu tiên họ gặp là “Delilah”, cô em gái nhỏ nhất của Dayuma, chính cô là người bày tỏ sự thân thiện với 5 vị giáo sĩ trên Bãi Dừa, ba ngày trước khi 5 vị ấy tử nạn. Betty phải nhắc nhở cho mình rằng đây là những người đã giết các vị giáo sĩ. Họ mang tiếng là một sắc tộc dã man nhất trên thế giới. Dầu họ rất dã man, họ cũng là con người, cũng cười, cũng giỡn và tắm rửa. Họ không tỏ vẻ thù nghịch gì đối với bà.

Thế thì tại sao họ lại giết 5 vị giáo sĩ? Có một anh người Auca chính là một trong những người tham dự vào cuộc thảm sát. Betty được biết họ cũng có quan niệm chính xác về những điều phải hay trái, cho dù quan niệm của họ hơi khác với người ngoài. Họ tin rằng giết người là sai lầm ngoại trừ trong trường hợp đặc biệt. Một người trong họ nói rằng, họ lầm tưởng rằng 5 vị giáo sĩ là những kẻ ăn thịt người. Có những người ở ngoài bộ lạc Auca đã giết người để ăn thịt. Lẽ dĩ nhiên nếu những kẻ ăn thịt người tìm đến người Auca, thì tiêu diệt họ là điều phải lẽ và hợp lý. Thật ra, chính sự sợ hãi đã thúc đẩy họ đến việc giết hại 5 vị giáo sĩ, mà bây giờ họ nhận thức điều đó là sai lầm.

Sống Với Người Auca

Như vậy Betty, em bé Valerie và cô Rachel bắt đầu cuộc sống với người Auca. Họ nghĩ rằng phương cách hay nhất là ráng sống như người Auca, ăn cùng một loại thức ăn như người Auca, làm những việc làm của người Auca. Người Auca đối xử tử tế với Rachel, Valerie và Betty. Họ cho Rachel một chỗ ngủ trong căn chòi. Họ giao cả cái nhà cho Betty và Valerie. Nhà của họ chỉ có một cái nóc, không có tường, không có sàn, không có cửa và cũng không kín đáo. Khi mái nhà bắt đầu bị dột, họ hợp lá lại cho Betty và Valerie.

Nói chuyện là một khó khăn thường xuyên. Betty cũng không thể đặt hơn một hay hai câu ngắn. Rachel và Betty ráng phân tích và tập nói. Thử ghi lại một thứ tiếng xa lạ với cách phát âm riêng biệt không có văn viết là điều khó khăn vô cùng. Còn Valerie thì không có khó khăn gì cả. Với khả năng bắt chước và trí nhớ của đứa bé ba tuổi, em có thể trao đổi với người Auca. Em Valerie cho các em bé người Auca coi những sách hình và dạy chúng cách cầm viết và vẽ. Đây là cách học ngôn ngữ hay nhất.

Khoai mì là thức ăn chính của thổ dân. Họ dùng khoai mì mỗi buổi ăn. Ngoài những thức ăn do phi cơ tiếp tế thả xuống, Betty, Valerie và Rachel cũng tập ăn khoai mì cùng những món ăn khác mà thổ dân cho họ.

Ngày trọng đại của mỗi tuần là lúc phi cơ đến thả đồ tiếp tế. Lúc đó còn  chưa có phi đạo, nhưng viên phi công thành thạo trong việc nhắm vào khoảng đất trống không cây cối. Ông cho phi cơ bay ở cao độ rất thấp rồi thả đồ xuống, thường thường những món này rơi ngay vào trung tâm điểm.

Vào sinh nhật của bé Valerie, cháu còn nhận được bánh sinh nhật được thả xuống bằng dù. Bánh ấy đến trọn với đủ bộ đèn cầy, và cũng có vài con kiến nữa. Hiển nhiên, điều này không làm Valerie hay các em khác thấy khó chịu khi chia bánh với nhau. Ngoài ra, cháu cũng nhận được bong bóng, Betty và Rachel đã dùng bong bóng đó trong dịp tổ chức sinh nhật cho các trẻ em Auca.

Tại đây một vài tháng sau khi Betty, Rachel và em bé Valerie đến, tất cả các thổ dân Auca đều có áo quần để mặc. Cô Dayuma đã học may và đã bỏ rất nhiều thì giờ để may quần, áo sơ mi, và y phục cho phụ nữ. Vài người trong thổ dân mặc y phục thường xuyên, nhưng có những người khác thì không muốn bắt chước cách ăn mặc của người ngoại quốc.

Betty đã giới thiệu rất nhiều đồ vật mới cho thổ dân Auca. Chẳng bao lâu, họ biết cây kéo là dùng để làm gì, và họ muốn được cắt tóc. Lúc trước họ thường dùng một loại vỏ xò bén lượm từ con sông. Nhưng bây giờ thì Betty dùng phương pháp mới để cắt tóc cho họ. “Kakady” là tên Auca của Betty, và bà sẵn sàng làm cô thợ hớt tóc cho họ.

Nói Về Đức Chúa Trời Cho Người Auca

Cô Dayuma giải thích cho thổ dân Auca rằng một ngày trong tuần lễ là ngày Chúa, và vào ngày Chúa cô sẽ nói về Đức Chúa Trời cho họ nghe. Mọi người được mời ngồi xuống và yên lặng. Cô kể cho họ nghe những câu chuyện rất đơn giản từ thời Cựu Ước và những chuyện Chúa Giê-su đã làm, cô dùng những ví dụ hay tranh ảnh, kèm theo những cách áp dụng trong đời sống của thổ dân Auca. Cô Dayuma kể rằng Chúa Giê-su dạy chúng ta chớ giết người. Ngay lập tức, một người đàn ông thổ dân ngưng làm lao. Có những lần họ cần cây lao để giết heo rừng, và sau khi họ giải thích rất rõ ràng cây lao mà họ đang làm là dùng để làm gì, họ mới làm những cây lao mới.

Tháng 11 năm 1958

Tháng 11 năm 1958, kể từ buổi chiều Chúa Nhật mà 5 vị giáo sĩ tử nạn đến nay đã gần 3 năm trôi qua. Hôm nay Betty ngồi trong một căn chòi nhỏ lợp lá bên dòng sông Tiwanu, chỉ cách Bãi Dừa một vài dặm về phía tây nam. Cách chỗ Betty ngồi khoảng vài thước, trong một ngôi nhà lá có hai người, họ là 2 trong 7 người đã giết 5 vị giáo sĩ. Gikita, một trong hai người ấy, vừa mới giúp nướng chuối sống cho Valerie, cô bé bấy giờ đã được ba tuổi rưởi.

Những truyện kỳ lạ như thế làm sao có thể xảy ra? Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng đã làm cho một khối sắt nổi lên, làm cho mặt trời đứng lại, và nắm trong tay hơi thở của tất cả mọi sự sống, chỉ có Đức Chúa Trời như thế, Đấng đời đời vô cùng mới có thể làm một việc lạ lùng như vậy.

Tin Lành Là Quyền Năng Của Chúa

Về sau, người ta thường hỏi rằng: “Chuyện gì đã xảy đến cho bộ lạc Auca? Có bao nhiêu người tin vào Chúa? Có người rao truyền Tin Lành cho những bộ lạc khác hay không?”

Cũng có nhiều người hỏi rằng: “Tại sao những người đã tin cậy vào Chúa Trời để  bảo vệ và thuẫn che họ lại bị lao đâm chết như thế?” Câu hỏi này không thể trả lời một cách dứt khoát. Chúng ta cũng không sao tìm được câu trả lời vừa ý mà chỉ có giao phó cho Chúa Trời.

Đối với người đời, câu chuyện kể trên là một sự mất mát đáng tiếc của 5 mạng sống trẻ tuổi. Nhưng Chúa Trời có chương trình và mục đích trong mọi sự. Cuộc đời của rất nhiều người đã thay đổi hẳn vì sự hy sinh của 5 vị giáo sĩ này. Ở Brazil, có một nhóm thổ dân tại một trạm truyền giáo nọ, khi nghe tin họ đã quì xuống và kêu cầu Chúa Trời tha thứ những đồng bào Auca này. Một vị thiếu tá không quân Mỹ đang đóng ở bên Anh lập tức bắt đầu dự tính gia nhập vào “Hiệp Hội Giáo Sĩ Phi Hành.” Một người truyền giáo ở Phi Châu viết: “Công việc của chúng tôi sẽ không bao giờ như xưa nữa. Chúng tôi quen biết 2 trong 5 vị giáo sĩ tử nạn. Cuộc đời của họ đã để lại một dấu ghi trong lòng chúng tôi.” Ở tiểu bang Iowa, một cậu thanh niên 18 tuổi cầu nguyện trong phòng suốt tuần, sau đó anh này báo tin cho cha mẹ mình rằng anh đã giao phó trọn vẹn cuộc đời cho Chúa Trời. Anh muốn thử thay thế và tiếp tục công việc của 1 trong 5 vị giáo sĩ tử nạn.

Vài năm sau, Betty trở về nước Mỹ, nhưng cô Rachel ở lại tiếp tục làm việc giữa người Auca trong mấy chục năm. Cô tiếp tục rao truyền tình thương của Chúa Giê-su cho dân Auca, nhưng cô không muốn tra hỏi hoài tại sao người Auca lại giết 5 vị giáo sĩ đó, cô thấy rằng câu trả lời không cần thiết và không quan trọng, cô cứ giao phó mọi việc trong tay của Chúa. Rất nhiều người Auca trở thành Tín Đồ của Chúa, và họ đổi tên của bộ lạc họ là “Waorani”, họ không muốn được gọi là người Auca nữa. Vì “Auca” trong tiếng Quichua mang ý nghĩa là tàn phá.

Cô Rachel và một cô truyền đạo khác tên là Catherine Peeke đã ráng học tiếng Waorani, và còn tạo ra chữ viết cho họ, vì dân Waorani không có chữ viết. Rachel và Catherine đã phiên dịch những bộ phận trong Kinh Thánh thành ra ngôn ngữ Waorani.

Cảnh Tượng Bọn Thiên Sứ Ca Hát Trên Không Trung

Ba mười ba năm sau (tức là năm 1989), một người phụ nữ Waorani tên là Dawa và một người đàn ông tên là Kimo nói ra một câu chuyện rất kỳ diệu. Lúc đó cả hai đều đã trở thành Tín Đồ Cơ Đốc. Họ là những người có mặt trong cuộc thảm sát 5 vị giáo sĩ. Năm vị giáo sĩ tuy có súng trong tay, nhưng họ không dùng súng để giết hại người Auca khi họ bị người Auca cung kích. Sau khi 5 vị giáo sĩ đã bị giết rồi, xác của họ còn nằm rải rác trên bãi biển, các thổ dân Auca bổng nghe ở trên đầu có tiếng ca rất lớn. Họ ngửng đầu lên nhìn qua những ngọn cây thì thấy có một nhóm người rất đông ở không trung đang lớn tiếng ca hát, tiếng ca của họ hình như “một trăm cây đèn hiệu.” Lúc đó các thổ dân không hiểu đấy là các thiên sứ đang ca hát rước chào các vị giáo sĩ trở về Thiên Đàng. Các thổ dân rất sợ hãi khi nhìn thấy có nhiều người xuất hiện trên bầu trời, họ nghĩ rằng có phải tại vì việc thảm sát đó đã gây ra chuyện kỳ lạ như vậy. Nhưng cảnh tượng này đã in sâu vào trong lòng của Dawa và Kimo, và cũng là cảnh tượng này đã thúc đẩy họ tin vào Chúa Giê-su. Và 5 năm sau cuộc thảm sát này thì Dawa là kẻ đầu tiên trở thành Tín Đồ của Chúa Giê-su trong bộ lạc của họ. Mãi cho đến khi Dawa và Kimo trở thành Tín Đồ Cơ Đốc rồi, thì họ mới hiểu cảnh tượng họ thấy hôm đó là các thiên sứ ca hát đón chào 5 vị giáo sĩ trở về nhà trên Thiên Đàng.

Pete, Ed, Roger, Nate và Jim đã hiến dâng cuộc đời của họ để rao truyền Tin Lành cho dân Waoranis. Khi họ bị giết thì hình như việc làm của họ đã thất bại. Nhưng 33 năm sau, một bộ lạc tàn bạo thì sống hòa hảo với những người dân khác ở lân cận và truyền giảng Tin Lành của Chúa. Theo lời của Dawa và Kimo thì cả công trình này đều bắt đầu từ cảnh tưởng bọn thiên sứ ca hát như một trăm cây đèn hiệu.

Bộ Tân Ước Viết Bằng Ngôn Ngữ Waorani

36 năm sau cuộc thảm sát (tức là năm 1992), thì dân Waorani có bộ Tân Ước đầu tiên viết bằng ngôn ngữ của họ. Trong buổi lễ tạ ơn chúc mừng bộ Tân Ước bằng ngôn ngữ Waorani, người lãnh đạo của dân Waorani nói rằng: “Bây giờ chúng ta không còn sống như trước kia nữa. Trước kia chúng ta chém giết lẫn nhau và cũng giết hại người ngoài nữa, bây giờ chúng ta muốn sống theo lời Chúa Giê-su giảng dạy. Từ hồi tôi còn là một cậu bé nhỏ trong bộ lạc, tôi đã nghe nói rằng chúng ta sẽ được quyển sách này, thì bây giờ ước vọng trong bao nhiêu năm đã thực hiện, chúng ta có quyển Tân Ước này trong tay rồi!”

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (5)

Tôi Nhận Biết Đức Chúa Trời Như Thế Nào

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Bản in PDF

Tiếp Tục Việc Học Tập Tại Đại Học Luân Đôn

Khi tôi rời Ê-cốt, một trong những chuyện sau cùng mà ông McBeath nói với tôi là: “Con Hòa, con phải tiếp tục học lên trình độ cao hơn, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho con ân điển. Con phải nắm lấy ân điển này mà học thêm. Bởi vậy con nên đi Luân Đôn tiếp tục theo đuổi học vấn tại đó.” Nói thiệt thì tôi không muốn theo đuổi học vấn nữa. Ngọn lửa đang cháy hừng hực trong lòng tôi và tôi muốn đi truyền giảng Tin Lành. Tôi không muốn tốn thêm thì giờ ngồi trong lớp học để theo học những môn làm tôi chán đến chết. Tôi không hề thích trường học. Tôi yêu sân vận động nhưng tôi không thích trường học.

bấm vào đây để đọc tiếp

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (5)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Tiếp Tục Việc Học Tập Tại Đại Học Luân Đôn

Khi tôi rời Ê-cốt, một trong những chuyện sau cùng mà ông McBeath nói với tôi là: “Con Hòa, con phải tiếp tục học lên trình độ cao hơn, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho con ân điển. Con phải nắm lấy ân điển này mà học thêm. Bởi vậy con nên đi Luân Đôn tiếp tục theo đuổi học vấn tại đó.” Nói thiệt thì tôi không muốn theo đuổi học vấn nữa. Ngọn lửa đang cháy hừng hực trong lòng tôi và tôi muốn đi truyền giảng Tin Lành. Tôi không muốn tốn thêm thì giờ ngồi trong lớp học để theo học những môn làm tôi chán đến chết. Tôi không hề thích trường học. Tôi yêu sân vận động nhưng tôi không thích trường học.

Bây giờ ông McBeath lại bảo tôi nên học cao hơn, và tôi nghĩ rằng: “Ồ, không.” Nhưng khi một người đầy tớ của Đức Chúa Trời nói chuyện thì bạn phải lắng nghe. Cho nên tôi nói rằng: “Vâng, con sẽ đi xuống Luân Đôn, và nếu Đức Chúa Trời mở đường cho con, thì con sẽ học tiếp, nhưng nếu Đức Chúa Trời không mở đường thì càng hay! Con sẽ đi truyền giảng Tin Lành.”

Tôi không biết có phải ông McBeath đang cầu nguyện cho tôi hay không, bất cứ tôi đi chỗ nào, cánh cửa đều mở rộng cho tôi. Tôi ngẫm nghĩ rằng điều này thì thiệt là lạ thường. Tình hình là như vậy, tôi thì không có thì giờ học tập để dự cuộc thi nhập học đại học, thông thường người ta cần hai hay ba năm học tập chuẩn bị. Mà tôi cũng không thích điều này, nhưng tại vì ông McBeath nói vậy, thì tôi phải ráng học một chút. Nhưng chỉ học tập phân nửa thời gian, một ít chỗ này một ít chỗ kia thì không đi đến đâu cả. Với lại trường Đại Học Luân Đôn cũng không phải dễ vào đâu. Nhưng chắc là đấng người của Đức Chúa Trời này đang cầu nguyện cho tôi, bởi vậy tôi đi vào học viện nào, tôi cũng được nhận vào ngay lập tức. Tôi nghĩ rằng chuyện này thì kỳ cục quá. Có bao nhiêu người đã xin thử mà không bao giờ được nhận vào. Còn tôi thì cứ đi vào thì ông giáo sư nói: “Tôi sẽ thâu nhận anh.”

Tôi đang ngẫm nghĩ nên học ngành nào. Không chừng quí vị cũng từng đối diện với cùng một câu hỏi: “Tôi nên học cái gì?” Tôi nghĩ rằng: “Tôi muốn học một môn có thể giúp cho việc phụng sự Đức Chúa Trời.” Tôi tự nghĩ rằng: “Chúa ơi, Chúa muốn con theo học cái gì? Con đang chờ đợi.” Tôi nghĩ rằng: “Bởi vì ước vọng trong lòng tôi là truyền giảng Tin Lành cho Trung Quốc, tốt nhất là tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn về Trung Quốc. Tôi phải học một môn có liên quan đến Trung Quốc.”

Tôi nên cho quí vị biết rằng môn nào mà liên quan đến văn học, triết học hay lịch sử là tôi sợ nhất, bởi vì trong tất cả các môn học ở trường, tôi chỉ có giỏi về các môn khoa học thôi, còn các môn về văn chương thì dở lắm. Tôi không viết được một bài luận đâu. Tôi hoàn toàn không biết tôi nên làm gì để viết một bài luận. Nhưng các môn về khoa học thì rất đơn giản, 2 cộng 2 là 4, cái đó thì tôi hiểu nổi. Nhưng nói đến viết một bài luận, tôi thật sự không biết làm gì mới phải. Về những môn học văn chương tôi thì dở lắm, miễn là tôi được thi đậu là tôi mừng lắm rồi. Còn về những môn khoa học, thì tôi thông thường làm được khá tốt. Môn mà tôi giỏi nhất thì luôn luôn là toán. Đối với tôi làm những bài toán thì tựa như chơi các trò chơi vậy. Tôi không biết tại sao có người lại sợ môn toán, nhưng tôi thì sợ môn văn chương. Và bây giờ tôi nhận thấy rằng tôi không nên theo học những môn khoa học, tại vì tôi không thấy những môn này có thể giúp ích cho việc phụng sự Chúa. Những môn này thì chắc cũng hữu ích lắm, nhưng tôi đang nói về sự lựa chọn của tôi hồi đó. Đối với người khác, môn khoa học thì cũng hữu ích lắm, chẳng hạn như là đi tìm việc làm ở Trung Quốc hay một nơi nào khác. Nhưng đối với tôi, hồi đó tôi đang ngẫm nghĩ nên học hỏi thêm về văn hóa và ngôn ngữ. Bởi vậy tôi đi vào triết học Đông Phương và những môn văn chương và lịch sử. Bây giờ tôi phải theo học những môn tôi dở nhất.

Lúc đầu tôi muốn đi học tiếng Hy Lạp. Tôi có thể tập trung vào tiếng Hy Lạp để  hiểu rõ hơn về Tân Ước của Kinh Thánh. Tôi đi vào phân khoa Hy Lạp của trường đại học, và nói với người giáo sư rằng: “Tôi muốn theo học tiếng Hy Lạp.” Và tôi được nhận vào liền. Ông giáo sư chỉ hỏi tôi: “Anh có xin vào Đại Học Oxford hay Cambridge không?” Tôi nói: “Tôi không có. Hội Thánh tôi thì ở Luân Đôn và tôi không muốn đi Oxford hay Cambridge.” Ông nói: “Nếu anh đã xin hai chỗ đó rồi thì tôi không thâu nhận anh đâu, nhưng nếu anh chỉ xin vào Đại Học Luân Đôn, thì tôi sẽ thâu nhận anh.” Tôi nghĩ rằng: “Tốt quá, cái này thì nhanh lắm.” Ông giáo sư này thì rất trực tiếp.

Sau đó, tôi mới biết rằng tôi phải học tiếng Hy Lạp cổ điển, chứ không phải tiếng Hy Lap của Tân Ước. Hai thứ ngôn ngữ này không phải hoàn toàn giống y hệt, hai thứ ngôn ngữ này thì có liên quan với nhau nhưng không phải giống y hệt nhau. Tôi nghĩ rằng nếu ngôn ngữ này không phải hữu dụng lắm thì tôi không muốn tốn ba năm trời để theo học tiếng Hy Lạp cổ điển.

Rồi tôi đi vào học viện nghiên cứu Đông Phương của trường Đại Học Luân Đôn. Tôi đi vào và nói rằng: “Tôi muốn xin vào học ở đây.” Ông giáo sư hỏi tôi: “Tại sao anh muốn theo học môn này?” Tôi nói: “Bởi vì tôi muốn đi truyền giàng Tin Lành, tôi muốn trở thành người truyền giáo.” Tôi nói trực tiếp như vậy. Nếu ông đó là một người phản tôn giáo, thì không chừng ông sẽ đuổi tôi ra liền. Học viện đó không phải là nơi huấn luyện người truyền giáo. Phần đông những người theo học ở đó là muốn trở thành nhà ngoại giao. Họ học tập triết học, ngôn ngữ ngoại quốc và văn hóa ngoại quốc, và nhiều người trở thành nhà ngoại giao. Thực ra vị Tổng Đốc trước kia của Hong Kong, David Wilson đã theo học tại học viện này, ông là một nghiên cứu sinh ở đó.

Bắt Đầu Hướng Dẫn Một Hội Thánh Người Hoa Ở Luân Đôn

Tôi đi xuống Luân Đôn, rồi một anh bạn hỏi tôi: “Bây giờ anh đang dự Hội Thánh nào?”

“Tôi mới đến Luân Đôn. Tôi chưa quyết định đi Hội Thánh nào.”

Anh nói: “Đến Hội Thánh của tôi đi.”

Tôi nói: “Anh đang dự Hội Thánh nào?”

Anh nói: “Chúng tôi vừa mới thành lập một Hội Thánh người Hoa.”

Và tôi nghĩ rằng: “Không, tôi nên đi tìm một Hội Thánh khác thì phải.”

Anh nói: “Chúng tôi không có đủ người, anh hãy dự Hội Thánh người Hoa này đi!”

Tôi nói: “Tôi không thấy thích thú.” Nhưng dù sao đi nữa, anh này theo đúng lời dạy dỗ trong cái ví dụ về sự bền trí, cứ gõ cửa hoài cho đến cánh cửa được mở. Anh này không có bỏ cuộc. Anh cứ hỏi tôi từ tuần này qua tuần khác và nói rằng: “Tôi hiểu rằng anh không muốn dự Hội Thánh đó, không chừng anh đến buổi học tập Kinh Thánh đi?”

Tôi nói: “Có gì khác nhau vậy?”

Anh nói: “Tôi muốn anh đi hướng dẫn buổi học tập Kinh Thánh.”

Tôi nói: “Tôi không quen biết những người đó.”

Anh nói: “Không sao đâu, anh cứ đến hướng dẫn buổi học tập Kinh Thánh đi. Hiện nay không có ai hướng dẫn cả. Chẳng lẽ anh không muốn giúp đỡ sao?”

Và sau cùng thì tôi bắt đầu đi dự Hội Thánh đó qua buổi học tập Kinh Thánh.

Khi anh này nói đến một Hội Thánh người Hoa, tôi tưởng là lớn lắm. Thực ra chỉ có khoảng 5 người thôi, mà họ gọi đó là một Hội Thánh, họ thì nên gọi là một nhóm học tập Kinh Thánh. Họ tụ họp tại một phòng họp mặt nhỏ của một nhà trọ, không chừng vì lý do này mà họ đó gọi là một Hội Thánh. 5 người ở trong một phòng họp mặt, và họ gọi đó là một Hội Thánh.

Sau đó tôi mới biết rằng tôi là người duy nhất hướng dẫn tạm thời Hội Thánh này. Anh bạn Tín Đồ mời tôi đến dự Hội Thánh này thì không biết đi đâu rồi. Bất thình lình anh này biến mất đi chỗ khác làm việc khác luôn. Tôi thì ở lại đó để trông nom cái Hội Thánh 5 người này. Tình trạng đó thật là buồn cười, bởi vì tôi phải làm hết thảy mọi việc, từ tuyên bố bản tụng ca đến đờn cái đàn ống. Tôi chưa hề đờn đàn ống bao giờ trong đời tôi. Tôi biết đờn một ít piano, chỉ là đủ để đờn những bản tụng ca. Quí vị tưởng tượng coi 5 người không hiểu gì về âm nhạc mà ca một bản tụng ca 5 đoạn thơ, tình hình đó là ra sao? Cho nên tôi nghĩ rằng: “Tôi nên đờn cái đàn ống này thì hơn,” nhưng tôi không biết phải bấm nút nào mới phải.

Đức Chúa Trời chắc cũng có tính hài hước lắm. Tôi phải đứng ở phía trước để tuyên bố bản tụng ca, rồi tôi phải chạy đến phía sau để đờn cái đàn ống. Khi tôi đờn cái đàn ống thì không ai đứng ở phía trước cả. Khi họ hát xong một bản tụng ca rồi, thì tôi lại chạy đến phía trước nữa.

Dần dần qua việc làm của Đức Chúa Trời, Ngài dẫn đưa càng ngày càng nhiều người đến Hội Thánh này. Trong vòng một vài tháng, phòng họp mặt nhỏ này thì đầy dẫy người, vẫn không phải đông lắm, nhưng có khoảng chừng 50 người. Khi cái phòng đã đầy rồi, có người thì phải đứng trong hành lang, chỗ mà người ta đi lên đi xuống.

Tôi bắt đầu thấy quyền năng trong lời của Đức Chúa Trời đang làm việc. Đức Chúa Trời vui lòng sử dụng một người trẻ tuổi, không có kinh nghiệm, và cũng thật sự không thích hợp để lãnh đạo một Hội Thánh, và Đức Chúa Trời thì rất nhân từ, Ngài ban phước cho việc làm này. Chúng tôi phải dời đi một phòng khác để tụ họp chừng vài tuần lễ sau.

Cho đến nay tôi chưa nói gì về những chuyện kỳ diệu, phải không? Nhưng ngay trong những việc hàng ngày thường xuyên, quí vị vẫn có thể kinh lịch được Đức Chúa Trời. Quí vị có thể kinh lịch quyền năng của Ngài trong việc dẫn đưa người ta đến dự Hội Thánh.

Đức Thánh Linh Giáng Lâm Vào Một Buổi Họp Tại Trại Chislehurst

Một hay hai năm sau, Hội Thánh đó vẫn tiếp tục trưởng thành, nhưng không phải dưới sự hướng dẫn của tôi, mà là dưới sự hướng dẫn của một ông mục sư đến từ Trung Quốc. Thực ra khi tôi mới đến Hội Thánh, mục sư này đang hướng dẫn Hội Thánh, nhưng ông đi qua bên Mỹ để quyên tiền ủng hộ để mua một nhà thờ. Ông đi vắng chừng 3, 4 tháng, khi ông trở về, thì rất ngạc nhiên thấy rằng phòng nhỏ đó đã đầy dẫy người.

Hội Thánh đó tiếp tục trưởng thành, rồi chúng tôi đi cắm trại tại Chislehurst ở xứ Kent, miền đông nam của thành phố Luân Đôn. Trong trại, chúng tôi cũng làm những việc thông thường tương tự như người khác vậy. Có khoảng 60 người đến dự trại, Đức Chúa Trời thì làm việc rất hùng mạnh ở trong trại. Ngày Chúa Nhật Phục Sinh là ngày sau cùng trong trại, Đức Chúa Trời làm việc trong lòng của mỗi một người. Trong những ngày ở trong trại, mọi người đều thấy Đức Chúa Trời đang làm việc trong lòng của nhiều người. Vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh thì có một trò chơi đi tìm cái trứng phục sinh. Muốn tìm được cái trứng phục sinh này, thì anh phải có đầu mối từ điểm này qua điểm kia. Nếu bạn không có đầu mối chính xác, thì bạn sẽ đi đến chỗ sai lầm. Từ đầu mối này đến đầu mối kia, bạn phải ráng suy nghĩ phân tích để tìm cái trứng đó.

Nếu quí vị hiểu rõ tôi, thì quí vị biết rằng tôi thì ham chơi lắm. Cho nên tôi gia nhập vào trò chơi cùng mọi người đi tìm trứng. Rốt cuộc, cái gì xảy ra đây? Tôi thắng, tôi được cái trứng. Thắng được cái trứng thì chắc cũng hay lắm chứ, nhưng tôi phải đem cái trứng lớn màu vàng kim này mà đi vào buổi họp của ngày Chúa Nhật Phục Sinh, tôi cảm thấy tôi hình như là một vai hề. Tôi tự nhủ rằng: “Chúa ơi, tại sao lại cho con thắng cái trứng này?” Cái trứng này coi kỳ quá đi. Tôi muốn tìm cách để giấu cái trứng này dưới ghế ngồi. Chẳng bao lâu thì buổi họp bắt đầu.

Tôi nói điểm này là tại vì nhiều khi Tín Đồ Cơ Đốc hay dùng âm nhạc hoặc phương pháp khác để tạo nên một không khí thuộc linh để gây xúc động tình cảm của người ta hầu cho đạt được kết quả họ muốn. Nhưng hôm đó thì không có những việc này cả. Chúng tôi không có làm gì để gây xúc động tình cảm của người ta. Rồi buổi họp bắt đầu. Người chủ tọa buổi họp đứng dậy và bắt đầu mở miệng nói vài lời. Lúc đó, mọi người vừa mới ngồi xuống, vẫn còn cười vui và nói đùa. Có một khoảng thời gian yên lặng, anh em Tín Đồ này nói: “Để chúng ta bắt đầu bằng lời cầu nguyện,” rồi bất thình lình Thánh Linh của Chúa Trời ngự xuống. Đó là lý do tại sao tôi kể cho quí vị nghe cái trò chơi về trứng Phục Sinh. Không có sửa soạn tâm lý gì hết. Đó là hoàn toàn ngạc nhiên. Một lúc thì người ta đang vui cười, nói đùa, rồi bỗng nhiên là hoàn toàn yên lặng. Sau đó mọi người đều cảm thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trừ phi quí vị từng trải một kinh lịch như vậy, bằng không thì khó mà giải thích cho quí vị biết tình hình đó là như thế nào.

Tôi có thể hiểu được vào ngày lễ Ngũ Tuần khi Thánh Linh của Chúa Trời giáng lâm thì tình hình đó là như thế nào. Cũng như tôi đã nói, khi Thánh Linh giáng lâm, thì Ngài sẽ chủ tọa cả buổi họp. Người chủ tọa thì cứ ngồi trên ghế, và chúng tôi không nghe anh này nói một câu nào nữa suốt cả buổi họp, có nghĩa là anh này không hề chủ tọa buổi họp. Đức Chúa Trời điều khiển mọi việc.

Tôi để ý có tiếng khóc thổn thức ở một góc nhà kia. Rồi càng ngày càng nhiều tiếng khóc thổn thức vang lên. Bất thình lình có tiếng khóc lớn ngang qua cái phòng tụ họp 60 người. Rồi sau đó, người ta bắt đầu xưng tội, rồi ăn năn hối cải. Sự thánh sạch đáng sợ của Đức Chúa Trời không phải là một điều mà bạn có thể định nghĩa được rồi viết trên một tờ giấy. Thánh sạch là gì? Bạn mở cuốn tự điển ra coi, thì trong đó nói rằng thánh sạch là cái này cái nọ. Sau cùng, bạn vẫn chưa biết thánh sạch là cái gì. Nhưng nếu bạn từng gặp gỡ với Đức Chúa Trời, bạn không cần ai giải thích cho bạn biết thánh sạch là gì nữa, bởi vì bạn từng kinh lịch rồi.

Bất thình lình có sự hiện diện đáng kính sợ của Đức Chúa Trời, Ngài đang ở trong phòng, và Ngài đang tuyên bố tội lỗi của người ta. Ông đứng kế bên tôi thì rất to và cao, ông này không muốn cho ai thấy ông khóc đâu. Nhưng khi tôi xoay lại thì thấy ông này đang khóc lóc không kiềm chế nổi, nước mắt đang chảy trên mặt của ông. Cả phòng đều là như vậy. Mọi người đều cảm thấy quyền năng của Đức Chúa Trời. Rồi người ta đứng dậy xưng tội của mình và cầu xin Chúa Trời tha tội. Thật là kỳ diệu. Đức Thánh Linh của Chúa Trời đang làm việc trong lòng của từng người một. Thật là một kinh lịch khó quên.

Chúng tôi không để ý đến thời gian trôi qua. Theo dự định thì buổi họp là một tiếng rưởi đồng hồ, nhưng đã kéo dài từ giờ này qua giờ khác. Mọi người đều bỏ quên cả chương trình và không ai đi ăn trưa hết. Những nhân viên trong trại đang chờ đợi để dọn cơm trưa cho chúng tôi, nhưng không ai xuất hiện. Mọi người đều ngồi trong phòng và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang làm việc. Nếu bạn muốn nói về những kinh lịch kỳ diệu, thì sự kiện đó đã bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời vậy. Để tôi nói cho quí vị nghe, thật là kỳ diệu. Đó là kinh lịch trực tiếp của lễ Ngũ Tuần. Chúng tôi kinh lịch sự hiện diện chế ngự của Đức Chúa Trời. Tôi cứ dùng mãi từ ngữ “đáng kính sợ”. Tôi không biết dùng từ ngữ nào khác để mô tả kinh lịch này. Mọi người đều khóc lên trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

Sau vài tiếng đồng hồ, chúng tôi mới kết thúc buổi họp. Tôi cũng không biết buổi họp đó kết thúc ra sao nữa. Khi đi ra khỏi phòng đó, chúng tôi đều cảm thấy như trong tình trạng mê mẫn, kinh ngạc. Tôi nhấn mạnh về khoảng thời gian đó, bởi vì đó không phải là chỉ là 2, 3 giây đồng hồ, chợt hiện ra rồi biến mất, mà là từ giờ này sang giờ khác ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đó không phải là một kinh lịch thoáng qua, tưởng tượng, rồi mờ đi. Đó là một kinh lịch kéo dài mãi, hầu cho bạn có thể thưởng thức sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ngài không phải chỉ là thoáng qua rồi biến mất liền, bằng không thì không chừng bạn sẽ nghĩ rằng: “Có phải là tôi vừa thấy ma hay sao?” Không, Chúa Trời thì ở đó. Sau cuộc kinh lịch này, mọi người đều khác hẳn rồi. Kinh lịch đó đã in dấu vào trong tâm linh tôi một cách sâu sắc hơn tôi tưởng tượng được. Quyền năng của buổi họp với Đức Chúa Trời thật là kỳ diệu.

Tôi nghĩ rằng những người trong buổi họp đó thì không ai biết rằng nên dùng cách nào để mô tả cuộc kinh lịch đó. Nhưng tôi từng kinh lịch Đức Chúa Trời vài lần  qua nhiều cách khác nhau, tôi biết rằng mỗi khi Đức Chúa Trời làm một việc như vậy, thì kẻ thù cũng sẽ làm việc nữa. Kẻ thù thì đến như nạn hồng thủy. Số người trong Hội Thánh tăng vụt lên. Khi người ta nghe rằng 60 người bọn chúng tôi từng gặp gỡ với Đức Chúa Trời ở Chislehurst, tin này truyền đi rất nhanh. Mọi người đều muốn đến Hội Thánh chúng tôi để coi coi việc gì xảy ra ở đây. Bạn bắt lửa bằng cách nào? Thực ra không có một phương pháp để bắt lửa. Không cách nào nói cho họ biết được. Bằng cách nào mà chúng tôi nói cho họ biết được? Sự kiện này thì không phải là cứ theo đúng một phương pháp từng bước một, bước 1, bước 2, bước 3 như vậy. Chúng tôi không có chuẩn bị gì hết. Bạn không cách nào tổ chức một cuộc kinh lịch như vậy, hay là sửa soạn cho cuộc kinh lịch này. Đức Chúa Trời sẽ đến lúc nào thì hoàn toàn do Ngài quyết định. Chứ không phải là tại vì chúng tôi tốt hơn người ta, hoặc là thánh sạch hơn người ta, hoặc là chúng tôi ca hát hay hơn người ta, hoặc là chúng tôi vỗ tay hay hơn, hoặc chúng tôi nhảy múa hay hơn người ta. Chúng tôi không có giỏi về những điều này hết. Chúng tôi nghĩ không ra một lý do nào hết. Đó là Đức Chúa Trời lựa chọn đến với chúng tôi.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (4)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Đức Chúa Trời Cung Cấp Mọi Điều Cần Thiết Cho Tôi Trong Học Viện Kinh Thánh

Chúa Trời tiếp tục làm nhiều phép lạ trong đời tôi. Khi tôi đến nước Anh, tôi không quen biết ai cả. Bởi vì tôi không được phép kiếm việc làm ở nước Anh, tôi phải nhờ cậy vào Chúa Trời cung cấp mọi điều cần thiết cho tôi trong kỳ học. Đôi khi Chúa Trời thử thách đức tin của tôi. Trước kỳ học cuối cùng ở học viện Kinh Thánh bắt đầu, tôi không có tiền trả học phí. Tôi đếm số tiền của tôi trong túi, tôi thấy rằng tôi sẽ mắc nợ người ta nếu tôi ở lại thêm hai, ba ngày nữa. Tôi phải làm gì đây? Đoạn Kinh Thánh Rô-ma 13:8 dạy rằng chúng ta không nên mắc nợ ai hết, chỉ mắc nợ về sự yêu thương nhau mà thôi. Tôi không muốn mắc nợ một người nào cả, ngay cả Học Viện Kinh Thánh.

Tôi nói cho người giữ sổ đăng ký rằng tôi sẽ rời học viện Kinh Thánh, bởi vì tôi không có tiền trả học phí. Ông này đặt tay trên vai tôi nói rằng: “Anh Hòa, chúng tôi không nghĩ rằng anh mắc nợ đâu, ít nhất chờ đến ngày sau cùng của kỳ học.” Rồi tôi nói rằng: “Ông Williamson, nếu Chúa Trời không cung cấp tiền học phí cho tôi vào đầu kỳ học, làm sao mà tôi biết được Ngài sẽ cung cấp cho tôi vào cuối kỳ học. Lúc đó tôi sẽ mắc nợ, và như vậy là không hợp với nguyên tắc của Kinh Thánh.” Ông này nài xin tôi ở lại, nhưng tôi cho ông biết rằng tôi phải đi. Bằng cấp thì không quan trọng gì hết đối với tôi.

Tôi trở về phòng tôi ở trên lầu. Tôi cảm ơn Chúa Trời đã cho tôi một cơ hội để theo học tại học viện Kinh Thánh. Nếu Chúa Trời ý định cho tôi rời khỏi học viện, thì tôi vui lòng tuân theo ý định của Ngài. Tôi lấy cuốn tập ra định viết vài bức thư tạm biệt cho bạn bè, thì tôi thấy có cái gì ở trong cuốn tập của tôi đây? Một bộc tiền pound Anh ở đó. Tôi tưởng rằng tôi đang ở trong giấc mơ, nhưng đó quả thật là một món tiền vừa đủ cho các chi tiêu trong kỳ học cuối cùng của tôi. Tôi chưa hề kinh lịch một sự kiện như vậy.

Tôi đi xuống để gặp ông Williamson, ông này chắc đang chờ đợi tôi đến bắt tay tạm biệt ông. Quí vị có thể tưởng tượng được ông này ngạc nhiên đến mực nào khi tôi trao cho ông một bộc tiền Anh. Sau khi tôi giải thích mọi việc cho ông nghe, ông nói với tôi rằng: “Anh Hòa, trong học viện Kinh Thánh này chúng ta đã thấy nhiều sự kiện kỳ diệu xảy ta trong cuộc đời của anh.”

Đức Chúa Trời Dẫn Dắt Bảo Hộ Con Cái Của Ngài Một Cách Kỳ Diệu

Tôi phải nhảy qua nhiều năm và nhiều sự kiện mà Chúa Trời đã làm từ thời kỳ học sinh của tôi đến bây giờ. Tôi muốn kể thêm một vài việc xảy ra chẳng bao lâu về trước. Việc này bày tỏ cho ta thấy Đức Chúa Trời dẫn dắt con cái của Ngài ra sao khi họ đi cùng với Ngài.

Vào năm 1985, một hôm tôi đang lái xe, tôi ngừng lại ở một nơi gần nhà tôi. Ở Canada, khi một chiếc xe đến một chỗ có dấu hiệu ngừng xe thì phải ngừng lại hoàn toàn. Rồi xe nào ngừng trước nhất sẽ có quyền đi trước. Sau khi tôi ngừng lại rồi, tôi đang sửa soạn gia tốc để đi tiếp thì bỗng có tiếng nói của Chúa Trời rằng: “Đừng đi!” Cho nên tôi ngừng lại không đi. Bất thình lình có một chiếc xe buýt chạy vượt qua chỗ giao nhau. Người lái xe chẳng những không ngừng tại dấu hiệu ngừng xe, và ông cũng không ngừng tại trạm xe buýt ở phía trước của dấu hiệu ngừng xe nữa. Nếu tôi đã gia tốc, thì chiếc xe buýt sẽ đụng ngay vào chiếc xe của tôi. Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Trời bảo hộ sinh mạng tôi.

Bây giờ tôi kể sự kiện thứ hai. Trong mấy tháng vừa qua, có vài anh chị em trong Hội Thánh chúng tôi có người cha hay người mẹ hoặc là cả cha mẹ chết đi hay nằm bịnh trong bịnh viện. Có một người chị em đang phụng sự Chúa ở Hội Thánh Toronto của chúng tôi, cha của chị này có bịnh đái đường, rồi gây lên nhiều thứ bịnh khác ở thận. Một hôm chị này điện thoại tôi rất khẩn cấp: “Tôi vừa nhận được một điện thoại của gia đình tôi ở Mã Lai cho tôi hay rằng bịnh của ba tôi trở nên nặng lắm. Nhưng chính ông bác sĩ cũng không biết tình trạng của ba có nguy hại đến tính mạng hay không. Tôi có nên đi về không?” Tôi bảo chị này cầu xin Chúa Trời. Sau khi tôi chờ đợi trước mặt Chúa Trời, tôi nhận được chỉ thị của Ngài rằng ba của chị này sẽ chết trong một khoảng thời gian ngắn. Tôi nói với chị này rằng: “Đi về Mã Lai ngay lập tức để chị có thể truyền giảng Tin Lành cho ba của chị trước khi ba qua đời.” Chị này bèn đi máy bay về Mã Lai ngay. Khi chị này đến nhà, thì ba của chị hình như ở một tình trạng khá tốt. Chị này có cơ hội truyền giảng Tin Lành cho ba được 2,3 ngày. Chị này là một cô y-tá, chị cũng hiểu biết về các vấn đề y khoa. Thấy rằng tình trạng của ba cũng khá tốt, chị này đi thăm vài anh chị em ở Hội Thánh Mã lai, họ mới từ Hội Thánh Montréal trở về. Trong khi chị này đi vắng, thì ba của chị chết đi. Ba của chị chết bất thình lình, chị này cũng ngạc nhiên lắm. Nhưng Chúa Trời đã cho tôi biết trước rằng ba của chị này chẳng sống được bao lâu nữa, bởi vậy tôi bảo chị này đi về liền.

Một sự kiện tương tự như vậy xảy ra chẳng bao lâu sau sự kiện vừa rồi. Một anh Tín Đồ ở Canada nhận được một điện thoại khẩn cấp từ gia đình ở Hong Kong nói rằng ba của anh bị đau tim sắp chết. Anh này điện thoại tôi liền hỏi tôi rằng anh có nên đi về không. Chúa trời cho tôi một tin tức ngay lập tức: ba của anh này sẽ không chết. Tôi nói cho anh này biết khải thị của Chúa, nhưng anh này giải thích rằng vài bác sĩ đều nói rằng tình trạng của ba rất nguy hiểm. Nhưng tôi nói với anh rằng: “Chúa Trời nói rằng ba của anh sẽ không chết!” Đúng như lời của Chúa Trời đã nói, ba của anh này vẫn còn sống cho đến hôm nay.

Khi quí vị đi cùng với Chúa Trời, Chúa sẽ cho quí vị biết nhiều sự bí mật (xin tham khảo đoạn Kinh Thánh ở A-mốt 3:7; Đa-ni-ên 2:19, 22, 28, 30.) Trong hai sự kiện này, lời khải thị của Chúa Trời mà tôi nhận được là công khai cho mọi người khám xét. Kết quả sẽ chứng tỏ liền tôi có phải là một tiên tri giả hay không. Không phải như thầy bối, tôi không có nói những chuyện dự đoán mơ hồ không rõ. Ngược lại, những lời mà Chúa Trời đã khải thị cho tôi và qua tôi thì rất rõ ràng không mơ hồ gì cả, và mọi việc đều có thể chứng minh khám xét.

Sự vĩ đại của Chúa Trời thật là kỳ diệu. Tôi chỉ kể một phần nho nhỏ của những việc Ngài đã làm; những thí dụ này thì khó mà giải thích bằng việc làm của người ta được.

Bây giờ quí vị nhận thấy tôi trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không thể tách rời với việc phụng sự Đức Chúa Trời. Tôi không thể lựa chọn việc gì khác, tôi phải phụng sự Chúa Trời bởi vì tôi đã hẹn với Ngài rồi. Thật ra cũng có vài lần tôi muốn trốn đi, nhưng Chúa Trời thì luôn luôn nhắc lại cho tôi lời tôi đã hẹn với Ngài. Trong bao nhiêu năm này Chúa Trời đã gìn giữ tôi trên con đường phải, hầu cho tôi có thể phụng sự Ngài qua ân điển của Ngài.

Có một số người hỏi tôi rằng: “Tại sao đối với mục sư thì Chúa Trời lại chân thật quá? Tại sao chúng tôi không kinh lịch được những việc như vậy?” Bí mật thì rất đơn giản: Nếu quí vị giao phó cuộc đời của quí vị hoàn toàn vào trong tay của Chúa Trời, và quí vị vui lòng vác thập tự giá của mình mà đi theo Chúa Giê-su, thì quí vị sẽ kinh lịch được những việc kỳ diệu từ Chúa Trời cũng như tôi từng kinh lịch vậy.

Nhận Biết Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Giê-su Christ

Trong chương này tôi muốn tuyên bố sự vinh diệu của Đức Chúa Trời, lòng thương xót của Ngài, lòng nhân từ của Ngài, trí tuệ của Ngài, cái Danh của Ngài. Tôi muốn tuyên bố Đức Chúa Trời là ai, tôi muốn tuyên bố tính tình của Ngài, và Đức Chúa Trời là một Đấng như thế nào.

Đối với tôi, trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không phải là gia nhập một tôn giáo. Tôi chưa hề thích thú tôn giáo, và cho đến hôm nay tôi vẫn không thích thú tôn giáo. Trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc là nhận biết Đức Chúa Trời có nghĩa là nhận biết Chúa Trời là Đấng hằng sống. Chính là trong quá trình nhận biết Chúa Trời mà chúng ta hiểu rằng trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không có liên quan gì với học thức của quí vị là cao hay thấp. Tôi không chống đối học thức, chính tôi cũng tốn nhiều thì giờ trong việc học tập. Nhưng quí vị không phải là Tín Đồ Cơ Đốc chỉ vì quí vị đã hiểu biết học thuyết, lịch sử và tổ chức của Đạo Cơ Đốc. Tất cả những điều này không làm cho quí vị trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc đâu. Điều căn bản của một Tín Đồ Cơ Đốc là nhận biết Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Sứ đồ Phao-lô nói rằng người chỉ muốn một điều là nhận biết Đấng Christ (Phi-líp 3:8, 10). Trong 1 Giăng 5:20 thì có nói rằng Đấng Christ chính là sự sống đời đời. Cho nên mọi việc đều tùy thuộc vào nhận biết Chúa Giê-su Christ.

Điều mà tôi muốn tuyên bố là Chúa Trời đã giảng dạy cho tôi hiểu biết những việc của Ngài. Tôi cũng muốn nói rõ rằng kinh lịch của mỗi một người ắt phải khác nhau. Cho nên bạn đã kinh lịch được điều gì thì bạn không cần phải so với kinh lịch của tôi, bởi vì Chúa Trời đã bày tỏ chính mình cho mỗi một người một cách khác biệt. Tôi muốn nhấn mạnh về điểm này bởi vì khi bạn thấy tôi kinh lịch một việc kỳ diệu, và bạn nói: “Tôi chưa hề kinh lịch một sự kỳ diệu như vậy.” Không sao đâu, kinh lịch của bạn tuy không kỳ diệu như vậy, nhưng vẫn rất chân thật.

Chúng tôi không phải tìm kiếm một kinh lịch kỳ diệu. Chẳng hạn như khi Chúa Giê-su hiện ra trước sứ đồ Phao-lô, lúc đó người chưa trở thành một sứ đồ, và người vẫn còn gọi là Sau-lơ. Nhưng trên đường Đa-Mách, có ánh sáng lớn từ trời soi-sáng chung quanh người làm cho người từ trên lưng ngựa té xuống đất và bị mù vài ngày. Tình hình này thì rất kỳ diệu, và bạn nói: “Tôi chưa hề có kinh lịch như vậy.” Chẳng sao đâu, bạn kinh lịch Chúa Trời vẫn rất chân thật cho dù bạn không có từ trên lưng ngựa té xuống, cho dù bạn không có bị mù ba ngày.

Kinh Lịch Đặc Biệt Kèm Theo Đau Khổ Đặc Biệt

Một điều tôi muốn nói ở đây: Nếu kinh lịch nào là đặc biệt lắm, thì bạn phải sẵn sàng, Đức Chúa Trời sẽ kêu gọi bạn làm những việc rất khó khăn. Thí dụ: Phao-lô có kinh lịch rất đặc biệt này, và kết quả là Chúa Trời giao những việc rất khó khăn cho người làm. Như vậy có nghĩa là nếu bạn muốn được những kinh lịch đặc biệt, thì bạn phải sẵn sàng chịu những đau khổ đặc biệt, cũng như sứ đồ Phao-lô đã được kêu gọi phải chịu đựng đau khổ vậy (Công Vụ Các Sứ Đồ 9:16.) Nếu bạn không muốn chịu đựng những đau khổ đặc biệt này, thì bạn đừng nghĩ về những kinh lịch đặc biệt, bạn chỉ lắng tai nghe người ta kể lại những kinh lịch của họ, và để họ chịu đựng những đau khổ đặc biệt đó.

Khi tôi chia sẻ những việc này, tôi sẽ không nói về những đau khổ mà tôi từng trải vì lòng thương xót của Chúa Trời. Mỗi lần khi những đả kích và đau khổ đến, thì tôi nhớ lại đó chính là điều mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi tôi làm, và phần lớn của sự kêu gọi này thì luôn luôn chứng tỏ cho tôi thấy mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và tôi một cách chân thật qua những kinh lịch này.

Thi Thiên 9:11. Hãy báo cáo giữa các dân công việc tối cao của Ngài.

Thi Thiên 66:16. Hỡi hết thảy người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy đến nghe, thì tôi sẽ thuật lại điều mà Ngài đã làm cho linh hồn tôi.

Thi Thiên 73:28. Đặng thuật lại hết thảy các công việc của Ngài.

Thi Thiên 145:6. Còn tôi sẽ rao truyền sự cao-cả của Chúa.

Trong Thi Thiên thì cứ lập đi lập lại nhiều lần như vậy: thuật lại công việc của Ngài, tuyên bố sự vinh diệu của Ngài cho các nước, cho dân chúng. Đó chính là điều mà tôi đang làm.

Có nhiều người nói với tôi rằng: “Chúa Trời đã cho mục sư kinh lịch được nhiều sự kỳ diệu như vậy, mà Chúa lại không cho tôi kinh lịch gì cả, thiệt là không công bằng.” Tôi mong rằng quí vị hãy nhớ kỹ những điều tôi đã nói. Quí vị cũng có thể kinh lịch được các sự việc như vậy, không chừng còn kỳ diệu hơn nữa, miễn là quí vị sẵn sàng chịu khổ vì cớ của Chúa Trời. Bằng không thì đừng nghĩ về kinh lịch gì cả. Như vậy thì có nghĩa là mỗi một kinh lịch do Chúa Trời ban cho đều kèm theo một giá riêng. Nếu quí vị không sẵn sàng trả giá đó, thì đừng có tìm kiếm là hơn.

Còn tôi thì tôi yêu thích cái đặc quyền ban cho tôi để tôi nhận biết Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su Christ, và những đau khổ đi kèm với sự nhận biết này. Tôi cũng nói như sứ đồ Phao-lô đã nói trong Phi-líp 3:10: “cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép của sự sống lại của Ngài, và sự tương giao khổ nạn của Ngài đặng làm cho tôi trở nên giống như Ngài trong sự chết của Ngài.” Đó là phương cách mà sứ đồ Phao-lô dùng để nhận biết Chúa Giê-su. Quí vị muốn nhận biết Chúa Giê-su đến mực nào đây?

Qua Những Khó Khăn Khổ Nạn Mà Năng Lực Của Chúa Trời Được Bày Tỏ

Bây giờ để tôi kể tiếp phần thứ tư của câu chuyện của đời tôi. Tôi muốn nói rõ rằng tôi chỉ nhấn mạnh về vài sự kiện thôi, bởi vì trong một tiếng đồng hồ thì tôi không cách nào kể hết tất cả những việc xảy ra trong cả một thời kỳ của cuộc đời tôi: Thời kỳ ở Luân Đôn. Những phần trước thì nói về cuộc đời tôi và gia đình tôi ở Trung Quốc, rồi đến thời kỳ ở Ê-cốt. Trong chương này tôi sẽ tập trung về những năm tôi ở Luân Đôn. Trong những năm đó, tôi kinh lịch bao nhiêu việc Đức Chúa Trời đã làm trong cuộc đời của tôi, tôi chỉ có thể kể ra vài điểm quan trọng thôi.

Chính là qua những khó khăn và nhất là những khổ nạn mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ năng lực của Ngài. Nếu không có khó khăn nào cả, thì chúng ta không có cơ hội để kinh lịch những việc Chúa Trời làm. Nếu quí vị không có cần thiết về tiền bạc hay vật chất, và quí vị là tôi tớ của Chúa hay là con cái của Chúa, mà quí vị không có gặp khó khăn gì về tài chánh, thì làm sao mà quí vị có cơ hội kinh lịch được sự cung cấp của Chúa Trời? Nếu quí vị không cần gì cả, cho nên cũng không có cơ hội để Chúa Trời giúp đỡ quí vị. Tôi thương xót cho những kẻ không có điều gì cần thiết bởi vì họ cũng không có cơ hội để kinh lịch Chúa Trời. Xin quí vị nhớ kỹ điểm này.

Nếu quí vị không có bịnh tật gì cả, thì quí vị cũng không kinh lịch được Đức Chúa Trời. Thân thể tôi phải nhờ cậy vào Chúa Trời hàng ngày. Bây giờ thân thể tôi đã yếu đến mực nếu không có sự nâng đỡ của Chúa Trời thì tôi không sống qua một ngày nào được. Trước kia tôi cũng mạnh khỏe như ai vậy, hôm nay tôi đau ở lưng, cho dù chỉ đứng dậy chừng 10 hay 15 phút cũng làm cho tôi đau nhức vô cùng. Như vậy thì tôi phải làm gì? Tôi chỉ có tập nhờ cậy vào Chúa Trời. Sự cần thiết trở thành cơ hội cho Chúa Trời.

Andrew McBeach – Hiệu Trưởng Của Học Việc Kinh Thánh Ở Ê-cốt

Ở Ê-cốt, tôi học tại học viện Kinh Thánh được 2 năm trời, đó là một học viện Kinh Thánh lâu nhất và nổi tiếng nhất ở nước Anh. Học viện đó là do D.L. Moody thiết lập. Nếu quí vị quen biết truyền thống của Đạo Cơ Đốc ở Tây Phương, thì quí vị sẽ biết người truyền đạo vĩ đại D.L. Moody. Học viện Kinh Thánh Moody ở Chicago cũng là do Moody thiết lập. Sanky là bộ trưởng âm nhạc phụ trách về âm nhạc. Bất cứ Moody đi đâu, Sanky cũng đi theo và chăm lo tất cả những chuyện về âm nhạc. Có nhiều bản thánh ca tiếng Anh nổi tiếng cũng là tác phẩm của Sanky. Hai vị đầy tớ này của Chúa Trời tổ chức một buổi họp ở nước Anh. Nhiều người tin vào Chúa Giê-su trong khoảng thời gian đó, và họ muốn được huấn luyện để phụng sự Chúa Trời. Bởi vậy mà học viện Kinh Thánh được thành lập.

Hiệu trưởng của học viện đó là Andrew McBeath, một nhà học giả, nhưng quan trọng hơn nữa là một tôi tớ trung tín của Chúa Trời. Khi tôi nhìn lại cuộc đời của tôi, tôi thử đếm lại coi tôi từng gặp được bao nhiêu người tôi tớ chân thật của Chúa Trời, một người mà tôi nghĩ rằng xứng đáng được gọi là “người của Đức Chúa Trời”. “Người của Đức Chúa Trời” là một danh hiệu mà chúng ta không nên lạm dụng. Rất ít người xứng đáng được gọi bằng danh hiệu này. Tôi nghĩ rằng không có một danh hiệu nào khác trong Kinh Thánh cao hơn danh hiệu “người của Đức Chúa Trời”. Những người như vậy thì rất hiếm có. Trong suốt cuộc đời của tôi, tôi có thể đếm trên đầu ngón tay tôi từng gặp bao nhiêu người của Đức Chúa Trời.

Tôi sẽ kể ông Andrew McBeath là một trong những người đó. Khi quí vị gặp mặt ông này và có dịp nhận biết ông sâu hơn, thì quí vị biết rằng quí vị đã gặp phải một “người của Đức Chúa Trời”. Đầu tiên sự khiêm nhường của ông này làm cho tôi ngạc nhiên lắm. Tôi đến học viện Kinh Thánh trễ một tháng bởi vì tôi không xin được thị thực nhập cảnh. Tôi gặp phải nhiều sự khó khăn liên quan đến thị thực, sau cùng tôi đến Glasgow sau khi học viện đã khai trường được một tháng rồi. Và chính ông McBeath đến đón tiếp tôi. Tại sao ông hiệu trưởng lại phải đón tiếp một học sinh mới. Ông có thể sai một người nào đó đến đón tiếp tôi, bởi vì có nhiều người học sinh ở đó, nhưng ông đích thân đến đón tiếp tôi. Chẳng những thế, mà ông còn dắt tôi đến chỗ ở của ông nữa. Chỗ ở của ông là ở trong cùng một tầng nhà của học viện. Ông dắt tôi đến chỗ ở của ông và giới thiệu gia đình của ông cho tôi biết. Tôi chưa từng thấy một hiệu trưởng lại chịu giới thiệu một người học sinh cho gia đình của mình. Ông này giới thiệu tôi cho người vợ của ông, lúc đó bà hiệu trưởng đang nằm bịnh trên giường. Cho nên bà ngồi dậy trên giường để đón tiếp tôi. Đó là lần đầu tiên tôi kinh lịch sự tử tế và sự khiêm nhường của ông hiệu trưởng.

Một hôm khi tôi đang đi trên hành lang, bất thình lình ông McBeath xuất hiện. Ông kêu tôi: “Lại đây!” Tôi ngẫm nghĩ trong lòng : “Cái gì vậy?” Ông này gọi tôi đi qua một bên, rồi trao cho tôi một bao thư. Tôi nhìn vào bao thư và hỏi ông: “Cái gì đây?” Ông nói: “Chúa Trời đã chỉ thị cho tôi và tôi muốn cho con tiền hiến dâng thập phân (một phần mười) của tôi. Đây là tiền hiến dâng thập phân của tôi.” Tôi rất xúc động. Có bao nhiêu học sinh ở học viện Kinh Thánh này, và đây là chính ông hiệu trưởng trao cho tôi tiền hiến dâng thập phân của ông. Tôi xúc động quá nói không ra tiếng. Điều này cho quí vị thấy cái phẩm chất của cuộc đời của ông. Lúc đó tôi chỉ là một học sinh năm thứ nhất.

Cả cuộc đời của ông này đều tỏa ra vinh diệu của Chúa Trời, thật là đẹp đẻ. Điều mà tôi thâu nhận được từ học viện Kinh Thánh thì không những chỉ là học thức, mà quan trọng hơn hết là cái ấn tượng của một người của Đức Chúa Trời là như thế nào. Không có gì quí báu hơn là không những tôi được gặp một người như vậy, mà còn được trở thành bạn bè cuả một người như vậy.

Nhiều năm sau, khi ông này đã khá già rồi, một hôm từ Liverpool tôi điện thoại ông, lúc đó tôi đang phụng sự tại một Hội Thánh ở Liverpool. Tôi hỏi ông về điều thụ chức trong Kinh Thánh, đó là điều tôi đang học tập. Tôi không muốn được thụ chức, tôi không muốn bị xưng là một vị mục sư gì đó. Tôi không muốn mang một danh hiệu gì cả. Thực ra tôi phụng sự Chúa Trời ở Hội Thánh Liverpool không lấy tiền lương gì cả. Trong 5 năm trời tôi không nhận tiền lương gì hết, tôi không muốn nhận. Đó thì làm cho cuộc sống khó khăn lắm, nhưng tôi muốn chứng tỏ cho Hội Thánh thấy rằng tôi truyền giảng Tin Lành không vì tiền bạc. Tôi không muốn nhận lấy một xu về công việc phụng sự của tôi. Thực ra tôi không hề nói về điều này. Mãi cho đến khi tôi rời Liverpool sau 5 năm, lúc đó người ta mới biết rằng suốt cả 5 năm trời, tôi chưa hề nhận tiền lương. Và họ kinh ngạc lắm, họ hỏi rằng: “Tất cả tiền hiến dâng của chúng ta thì đi đâu rồi?” Tôi nói: “Số tiền đó thì dùng trong công việc của Chúa. Số tiền đó không đi về tôi, những vẫn có thể dùng trong các công việc khác.” Và họ nói: “Tại sao ông không hề nói ra?” Tôi nói: “Tôi nói từ ban đầu, nhưng hồi đó các anh còn chưa gia nhập Hội Thánh.” Hội Thánh đã trưởng thành từ một nhóm rất ít người thành ra một Hội Thánh khá đông người, và phần nhiều những người này không biết chút gì về việc này cả.

Nhưng lúc đó tôi muốn tìm hiểu về sự thụ chức, đó là điều tôi đã đọc nhiều lần trong Kinh Thánh. Cho nên một hôm tôi điện thoại ông McBeath và nói rằng: “Mục sư McBeath, thầy nghĩ sao về sự thụ chức?” Ông nói: “Ồ, đó là rất quan trọng.” Tôi nói: “Như vậy, xin thầy giảng dạy cho con hiểu!” Ông nói: “Tôi sẽ đến Liverpool.” Tôi nói: “Có phải lời giải thích đó rất dài mà thầy phải đến tận Liverpool để giảng dạy cho con sao?”

Quí vị để ý coi một người của Đức Chúa Trời. Ông này từ Ê-cốt đến tận Liverpool, khoảng đường thì xa lắm. Tôi tưởng rằng ông sẽ đến Liverpool để giải thích cho tôi về sự thụ chức. Lúc đó thì sắp đến Lễ Phục Sinh rồi. Khi ông đến Liverpool, tôi nói: “Con không hiểu tại sao thầy phải đến tận Liverpool để giải nghĩa cho con về sự thụ chức.” Ông nói: “Tôi đến đây không phải để giải thích cho con về sự này, mà để làm thụ chức cho con.” Tôi không biết nói gì mới phải, tôi chỉ nói: “Cái gì?” Ông nói: “Khi con biết một việc gì là hợp với dạy dỗ của Kinh Thánh thì con nên làm đi, con không nên chỉ nói thôi, con làm liền.”

Điều kinh ngạc nhất là ông đến Liverpool trong tuần lễ Phục Sinh, và ba ngày sau vào ngày Chúa Nhật là Lễ Phục Sinh, thì tôi được thụ chức làm mục sư. Cả Hội Thánh còn chưa biết việc này vào Chúa Nhật tuần trước, bởi vì chính tôi cũng không biết rằng tôi sẽ được thụ chức.

Điểm này cho ta thấy bí mật của một người của Đức Chúa Trời. Ông này không những chỉ nói thôi, mà ông làm liền. Khi một việc là hợp với dạy dỗ của Kinh Thánh, và cho dù quí vị không hiểu rõ về việc đó, quí vị cứ làm trước đã. Ông chưa hề giải thích sự thụ chức cho tôi. Ông chỉ đến làm thụ chức cho tôi. Khi nhìn lại, tôi cảm thấy thật là một đặc ơn cho tôi mà tôi được thụ chức bởi một người đầy tớ rất xuất sắc của Chúa Trời, một người có phẩm chất rất đặc biệt. Tôi nhận thấy rằng đó thì thật là một sự kế nghiệp của các sứ đồ qua những người của Đức Chúa Trời.

Tôi dùng nhiều thì giờ để nói về điểm này bởi vì tôi muốn chứng tỏ rằng ngày nay chỉ còn rất ít người của Đức Chúa Trời. Và Chúa Trời qua trí tuệ và lòng nhân từ của Ngài, Ngài đã cho tôi đặc ơn được gặp một vài người của Đức Chúa Trời.

Ông Andrew McBeath đã viết một vài cuốn sách. Trước khi tôi rời Glasgow, tôi đến văn phòng của ông trong học viện để chào tạm biệt ông. Ông thì lúc nào cũng rất nhân từ và hòa nhã, ông chào tôi tạm biệt và nói rằng: “Sách của tôi vừa mới xuất bản, và tôi muốn cho con một cuốn.” Rồi ông ký tên trên cuốn sách đó và trao cho tôi. Sách đó thì rất quan trọng, đó là cuốn sách nói về Gióp. Hồi đó tôi vẫn còn trẻ, chưa trưởng thành, tôi không nhận thấy sự quan trọng của sách này. Mãi về sau tôi mới hiểu được lý do tại sao ông viết cuốn sách dẫn giải về Gióp, bởi vì ông từng chịu đau khổ lâu dài vì cớ của Chúa. Nhưng ông không hề nói về sự đau khổ của mình. Mãi về sau tôi nghe từ chỗ này chỗ nọ mới hiểu được ông đã chịu khổ bao nhiêu. Nếu quí vị chưa từng trải đau khổ thì không trở thành một người của Đức Chúa Trời được. Sách dẫn giải về Gióp của ông này thì có giá trị lắm, bởi vì phần đông những sách dẫn giải là viết bởi những nhà học giả ngồi trong ghế bành, nhưng ông Andrew McBeath là một nhà học giả và đồng thời cũng một người có nhiều kinh lịch. Ông từng kinh lịch rất nhiều vì cớ của Chúa Trời khi ông đi khắp nhiều nơi trên thế giới để truyền giảng Tin Lành của Ngài.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa ( 3)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Chúa Trời Cung Cấp Thức Ăn Cho Tôi Bằng Nhiều Phép Lạ

Từ đó trở đi, tôi lần lượt kinh lịch nhiều phép lạ. Đức tin của tôi trở nên ngày càng vững mạnh hơn qua những phép lạ kỳ diệu này và những phương cách mà Chúa Trời cung cấp cho tôi thức ăn cần thiết. Có một lần tôi có một hộp củ cải khô, mà hộp củ cải này không bao giờ ăn hết được, cho dù tôi ăn bao nhiêu củ cải đi nữa, nó vẫn không hết được. Mãi đến một hôm tôi thiệt chán ăn củ cải rồi, thì Chúa Trời mới ngưng sự cung cấp. Sau đó tôi đọc trong Kinh Thánh thì thấy có một câu chuyện tương tự như kinh lịch của tôi, đó là trong 1 Các Vua 17:15-16: “Vậy nàng đi và làm theo điều Ê-li nói. Nàng và nhà nàng, cùng với Ê-li ăn trong lâu ngày. Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong bình, y như lời Đức Giê-hô-va đã cậy miệng của Ê-li mà phán ra.”

Đây chỉ là một trong nhiều phép lạ mà tôi đã kinh lịch. Tôi cũng được gặp nhiều vĩ nhân thuộc linh của Chúa Trời, Ngài đã làm nhiều phép lạ qua tay của họ. Nhưng đó lại là một câu chuyện dài, tại vì không đủ thì giờ tôi sẽ nhảy qua những câu chuyện này. Khi người ta hỏi tôi rằng tại sao tôi biết rằng Chúa Trời là thiệt, tôi sẽ nói với họ rằng: “Sau khi đã kinh lịch bao nhiêu phép lạ này, làm sao mà tôi không biết.”

Chúa Trời Khải Thị Cho Biết Ngài Sẽ Dắt Đưa Tôi Ra Khỏi Trung Quốc

Rồi hai năm rưởi trôi qua. Một hôm tôi hỏi Đức Chúa Trời: “Chúa muốn con làm gì đây? Nếu Chúa muốn con ở lại Trung Quốc, con sẽ vui lòng ở lại, nhưng xin nói cho con hay.”

Tôi không làm được việc gì cả. Mỗi một việc làm đều do chính phủ điều khiển, nếu chính phủ không cho phép, anh muốn đi bán báo chí cũng không được. Hai lần tôi xin rời khỏi Trung Quốc nhưng họ không cho tôi đi.

Sức khỏe của tôi càng ngày càng yếu tại vì kém dinh dưỡng. Một hôm tôi cảm thấy có mồ hôi lạnh, tôi biết đó là dấu hiệu của lao phổi, má tôi đã mắc cùng một chứng bịnh này, và một miếng phổi của má phải bị cắt đi. Tôi đi chụp ảnh tia X, thì tôi mới biết một miếng phổi của tôi có một chấm đen. Nhưng tôi không có tiền mua thức ăn, đừng nói chi là mua thuốc men nữa. Rồi tôi đi một nơi khác chụp thêm một tấm ảnh tia X thứ hai, thì kết quả cũng như vậy. Chỗ đó phát cho tôi một tấm card nhỏ với tấm ảnh của hai miếng phổi, trên đó có một dấu chỉ ra chấm đen trên miếng phổi của tôi. Tấm card này cho tôi được tự do đi lại ở Trung Quốc rất ít trở ngại. Tôi còn có thể đi Bắc Kinh thăm chú tôi nữa. Tại sao? Bởi vì mỗi lần tôi bị tra hỏi, thì tôi cho họ coi tấm card này, và họ cho tôi đi liền. Không ai muốn đến gần tôi cả bởi vì họ tưởng rằng tôi có lao phổi. Tấm card nhỏ này không chừng là nguyên nhân sau này họ cho tôi rời khỏi Trung Quốc.

Một hôm tôi đang cầu nguyện trong phòng, thì tôi nghe có một giọng nói: “Ta sẽ đưa con ra khỏi Trung Quốc.” Tiếng nói này rất rõ ràng và đặc biệt, tôi quay đầu lại để coi coi có ai đang nói chuyện với tôi. Tôi thấy không có ai trong phòng. Đây là lần đầu tiên Chúa Trời đã nói chuyện với tôi qua một tiếng nói rõ ràng. Sau này tôi mới thấy có câu Kinh Thánh này trong sách Ê-sai 30:21. “Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ nghe có tiếng đằng sau mình rằng: ‘Nầy là đường đây, hãy noi theo!’ ”

Sau khi tôi nhận được lời khải thị này của Chúa Trời, tôi bắt đầu sắp xếp hành lý. Các anh chị em trong Hội Thánh tưởng rằng tôi đã nhận được giấy xuất cảnh rồi, nhưng tôi nói với họ rằng: “Không! tôi vẫn chưa nhận được gì hết, nhưng Chúa Trời đã cho tôi hay rằng Ngài sẽ đưa tôi ra khỏi Trung Quốc!”

Kinh Thánh ghi lại nhiều câu chuyện Chúa Trời nói chuyện với người dân của Ngài. Thí dụ như trong sách Công vụ các sứ đồ, Chúa Trời đã nói chuyện với Phao lô nhiều lần. Nhưng tại vì tiêu chuẩn của Đạo Cơ Đốc ngày nay đã trở nên rất tầm thường, cho nên những kinh lịch này thì được coi là bất thường hay là lạ thường. Đó thì chính là vấn đề của sự giao phó. Ngày nay đa số người Tín Đồ chỉ là những người dự lễ nhà thờ Chúa Nhật thôi, họ giao phó phân nửa, nhưng rất ít Tín Đồ là hoàn toàn giao phó. Hội Thánh ở các nước Tây Phương thì rất lạnh nhạt, trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc thì không có khó khăn gì cả. Chúa Giê-su phán rằng: “Vác thập tự giá của các ngươi mà theo ta”, câu nói này đã thành ra vô ý nghĩa đối với những Tín Đồ ở Tây Phương. Ơn cứu chuộc rẻ tiền và pha loãng như vậy sẽ không giúp bạn nhận biết Đức Chúa Trời một cách trực tiếp hoặc là biết được Đức Chúa Trời có thiệt hay không. Nhưng nếu bạn giao phó hoàn toàn cho Chúa Trời, thì bạn sẽ kinh lịch được quyền năng kỳ diệu của Ngài, nhất là khi bạn trong tình trạng khó khăn hoặc nguy hiểm. Đó là lý do tại sao những Tín Đồ Cơ Đốc ở Trung Quốc thì kinh lịch được phép lạ thường xuyên. Muốn trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc ở Trung Quốc thì thực sự cần phải giao phó hoàn toàn cho Chúa Trời, bởi vì bạn phải trả giá của sự lựa chọn này bằng cuộc đời của bạn. Đối với tôi, để trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc ở Trung Quốc thì cần sự giao phó hoàn toàn của tôi.

Được Ban Cho Giấy Phép Xuất Cảnh Và Giấy Phép Nhập Cảnh Vào Hong Kong

Từ một phép lạ này sang một phép lạ khác, Chúa Trời mở cửa cho tôi rời khỏi Trung Quốc. Nhưng khi tôi có giấy phép xuất cảnh rồi, thì tôi không có tiền mua vé xe lửa đi Hong Kong. Nhưng Chúa Trời đã cung cấp cho tôi mọi điều cần thiết! Bất thình lình, ông chú tôi gởi một món tiền cho tôi, cho dù chú tôi chưa hề gởi tiền cho tôi bao giờ. Chú không biết rằng tôi sắp rời khỏi Trung Quốc. Chú nhận được món tiền ba tôi gởi cho nhưng chú không muốn nhận lấy, cho nên chú đã gởi món tiền đó cho tôi chính trong lúc tôi sắp rời khỏi Trung Quốc. Chúa Trời đã sắp đặt thời khóa biểu một cách tuyệt vời.

Nhưng tôi lại gặp một khó khăn khác. Cho dù tôi có giấy phép xuất cảnh rồi, nhưng tôi vẫn không đi vào Hong Kong được. Bởi vì hồi đó Hong Kong đã có quá nhiều nạn dân, chính phủ nước Anh không muốn cho tôi nhập cảnh trừ phi tôi có chứng minh rằng tôi sẽ đi một quốc gia khác. Vấn đề này kéo dài một thời gian khá lâu, và giấy phép xuất cảnh của tôi sắp hết hạn rồi. Tòa Lãnh Sự Thụy Sĩ điện thoại Tòa Lãnh Sự Anh yêu cầu phát một giấy phép nhập cảnh cho tôi, nhưng vẫn bị từ chối.

Tôi đến trước mặt Chúa Trời và cầu xin Chúa rằng căn cứ theo lời dạy trong Kinh Thánh, nếu Chúa đã mở cửa nào, thì không ai đóng lại được. Hôm sau tôi đến Tòa lãnh sự Anh, nhân viên của Tòa lãnh sự hỏi tôi muốn làm gì, tôi nói rằng tôi muốn xin một giấy phép nhập cảnh đi vào Hong Kong. Nhân viên đó bảo tôi ngồi chờ một chút, rồi ông lấy hộ chiếu của tôi đi. Sau đó ông trở lại cùng giấy tờ tôi và hỏi rằng tôi định ở Hong Kong bao lâu, tôi xin cho một tháng. Thật là ngạc nhiên, một giấy phép nhập cảnh được ban liền.

Khi tôi đi ngang qua cái cầu từ Thâm Trấn đến Hong Kong, nhân viên nước Anh ở biên giới hỏi tôi rằng: “Anh biết nói tiếng Anh không?” Tôi trả lời: “Vâng.”

Ông nói: “Giấy phép của anh thì đặc biệt lắm.” Tôi hỏi rằng loại giấy phép một tháng này có gì đặc biệt đâu.

Ông nói: “Không! Anh được dài hơn một tháng nhiều! Họ đã cho anh ở lại Hong Kong không giới hạn! Chính tôi chưa hề thấy loại giấy phép này bao giờ!”

Tôi hỏi ông đó tôi nên làm gì, và ông nói: “Anh có thể ở lại Hong Kong bao lâu cũng được, tùy anh!”

Rốt cuộc tôi ở lại Hong Kong 9 tháng trời, và tôi còn có thể xin một thẻ căn cước Hong Kong nữa. Nếu sự kiện này không phải do Chúa Trời sắp đặt, thì quí vị làm sao mà giải thích được sự này?

Chúa Trời Thử Thách Lòng Trung Tín Của Tôi

Ở Hong Kong tôi cầu xin Chúa Trời rằng: “Bây giờ con ở đây rồi, Chúa muốn con làm gì?” Chúa Trời khải thị cho tôi rất rõ ràng rằng Ngài muốn tôi đi Âu Châu. Nhưng tôi không có việc làm gì cả, làm sao mà tôi có tiền đi Âu Châu?

Trong những năm đó, Hong Kong có hàng chục ngàn hàng trăm ngàn nạn dân, làm sao mà tôi cạnh tranh nổi với họ để tìm việc làm? Nhưng phương pháp của Chúa Trời thì rất kỳ diệu. Một hôm tôi thấy trên tờ báo có một việc làm là phiên dịch từ chữ Anh sang chữ Hoa và cũng từ chữ Hoa sang chữ Anh. Đó là một việc làm của chính phủ, trả lương rất cao, tôi bèn đi xin liền. Đến buổi họp mặt, tôi thấy có nhiều người khác cũng ganh lấy việc làm này. Tôi làm bài thi vấn đáp và bài thi viết, rồi sau đó tôi được nhận vào việc làm này.

Rồi Chúa Trời tiếp tục đặt tôi trong một cuộc thử thách. Việc làm này là dài hạn, nhưng mà tôi chỉ muốn làm việc tạm thời, rồi tôi sẽ đi Âu Châu. Tôi vật lộn trong lòng ngẫm nghĩ rằng tôi có nên nói thiệt cho nhân viên trong vụ nhân sự biết không. Tôi biết nếu tôi nói thiệt thì tôi sẽ mất việc này. Rốt cuộc tôi quyết định tôi phải thành thật, tôi nói với Chúa Trời rằng: “Chúa đã làm bao nhiêu chuyện cho con rồi. Nếu Chúa vui lòng cho con việc làm này, cho dù điều kiện nào đi nữa, con vẫn chắc chắn được việc này.”

Tôi viết một bức thư để cám ơn nhân viên trong vụ nhân sự đã nhận lấy tôi. Nhưng tôi nói cho ông biết rằng tôi là một Tín Đồ Cơ Đốc, và tôi phải thành thật về tình trạng của mình, tôi chỉ muốn làm việc khoảng một hay hai năm rồi tôi sẽ đi Âu Châu. Trong thư trả lời ông viết rằng: “Tôi cám ơn sự thành thật của cậu, nhưng chúng tôi muốn tìm một người làm việc dài hạn. Trừ phi cậu suy nghĩ kỹ coi, và cậu chịu làm cho chúng tôi dài hơn một hay hai năm, bằng không chúng tôi phải đi mướn người khác.” Tôi không cách nào nữa mà phải nói cho họ biết rằng xin giao việc làm này cho người khác.

Sau khi tôi quyết định như vậy rồi, tôi bị các Tín Đồ khác khiển trách, họ cũng ở tại cùng một nhà trọ cung cấp bởi Hội Thánh Lutheran. Họ nói: “Thiệt là ngu dại! Anh không biết có bao nhiêu nạn dân ở Hong Kong đang nhịn đói sao?” Một trong những người khiển trách tôi là vị trưởng lão của Hội Thánh chúng tôi ở Thượng Hải. Ông nói: “Vấn đề của bọn trẻ tuổi là họ không hiểu rõ tình trạng thực tế của cuộc đời. Coi tôi này, tôi đã năm mươi mấy tuổi rồi, tôi đã làm việc trong một hãng dầu xăng hơn ba mươi năm rồi, nhưng tôi được cái gì đây? Tiền lương của tôi chỉ nhiều hơn một chút tiền lương của việc làm mà anh được nhận. Thử tưởng tượng xem, một người trẻ tuổi mà được tiền lương như vậy! Mà anh lại ngu dại đi từ chối việc này!” Tôi bị họ khiển trách rất nặng. Tôi không nói gì để bào chữa cho mình cả, tôi chỉ giao phó việc này cho Chúa Trời thôi.

Bây giờ tôi lại kẹt vào trong tình trạng cũ, tôi vẫn không có việc làm, và tôi vẫn không biết ở đâu mà kiếm được tiền đi Âu Châu. Một trường học của Đạo Tin Lành chịu mướn tôi làm giáo sư Anh ngữ, nhưng tiền lương thì ít quá, cho dù tôi làm suốt đời vẫn không dành đủ tiền đi Âu Châu. Mà rốt cuộc việc làm đó cũng không thành.

Tôi biết ở Hong Kong thì có nhiều tàu lớn, cho nên tôi đi hỏi những thuyền trưởng đó coi coi họ có cần người làm việc trên tàu không. Những thuyền trưởng đó thì tử tế với tôi lắm, nhưng họ không thể mướn tôi được, bởi vì đã có đủ người làm việc rồi. Nhưng Chúa Trời có một kế hoạch cho tôi, Ngài đang thử thách lòng trung tín của tôi.

Một Bà Cụ Tín Đồ Người Mỹ Tặng Cho Tôi Món Tiền Để Mua Vé Tàu Đi Âu Châu

Lúc đó ở bên kia của Thái Bình Dương, ở bờ biển miền tây của nước Mỹ, ở xứ Oregon, có một bà cụ Tín Đồ Cơ Đốc đang quỳ xuống cầu nguyện.  Chúa Trời nói với bà rằng: “Con hãy đi Hong Kong bởi vì ta muốn con đi làm một việc cho ta.” Bà cụ này thì khoảng năm mươi tuổi, bà thuộc về một gia đình giàu có. Bà chưa hề rời khỏi nước Mỹ bao giờ, đối với bà đi Hong Kong thì tựa như đi mặt trăng vậy.

Bà nói với chồng bà rằng: “Hôm nay khi em đang cầu nguyện, Chúa bảo em đi Hong Kong.” Chồng của bà cũng là một người Tín Đồ trung tín, ông nói với bà rằng: “Nếu Chúa bảo em đi Hong Kong, thì em nên đi.”

Rồi bà đến trước mặt Chúa Trời và hỏi rằng bà phải làm gì ở Hong Kong, Chúa Trời chỉ nói rằng: “Con đi Hong Kong, rồi ta sẽ cho con biết con phải làm gì.” Một trong những nguyên tắc trong đời sống Tín Đồ Cơ Đốc là thông thường Chúa Trời dẫn dắt ta từng bước một mà thôi. Cho nên bà đi đến Hong Kong và ở trong cùng một nhà trọ của Hội Thánh Lutheran mà tôi đang ở. Trong mấy tuần lễ, mỗi ngày bà cứ cầu xin Chúa cho bà biết Chúa muốn bà làm gì.

Một hôm trong lúc tôi đang cầu nguyện, thì có tiếng gõ cửa. Tôi mở cửa ra thì bà cụ này đang đứng ở đó. Bà nói với tôi rằng: “Chúa Trời vừa khải thị cho tôi, Chúa bảo tôi đi mua một vé tàu cho cậu đi Âu Châu.” Tôi tạ ơn bà nhưng tôi xin bà nên cầu xin Chúa chỉ dẫn rõ ràng hơn. Bà nói ngay rằng: “Không! Chúa Trời đã chỉ dẫn rõ lắm rồi!”

Một vài ngày sau bà trở lại hỏi tôi đã mua vé chưa. Khi tôi nói chưa, thì bà nói: “Đi mua vé liền đi. Bây giờ tôi biết chắc chắn lắm rồi tại sao Chúa lại bảo tôi đến đây. Chúa đã giao phó một nhiệm vụ cho tôi, đó là để đưa cậu đi Âu Châu. Mua vé đi, đừng chậm trễ nữa!” Hôm đó là ngày thứ sáu.

Mỗi ngày tôi cũng đọc báo, tôi biết thời khóa biểu, đường đi và giá tiền của tất cả các tàu biển rời Hong Kong đi Âu Châu. Tôi cũng biết vé tàu đi Âu Châu rẻ tiền nhất là một chiếc tàu sẽ rời Hong Kong vào thứ ba tuần sau. Sau khi bà Tín Đồ nhân từ này trao cho tôi một tờ cheque với số tiền đầy đủ rồi, tôi đi đến hãng đại lý tàu thủy để mua vé tàu. Nhưng tôi đến chỗ đó thì ông đó cho tôi hay rằng giá của vé tàu đã gia tăng 20% bởi vì cuộc chiến tranh ở Kinh Suez vào năm 1956. Kinh Suez đã đóng lại vì cuộc chiến tranh, và không ai biết rằng trong khoảng một tháng Kinh Suez có mở lại hay không, mà một tháng sau thì chiếc tàu sẽ đến vùng đó rồi. Nếu Kinh Suez không có mở thì chiếc tàu phải đi một khoảng đường dài vòng qua Nam Phi và Hữu Vọng Các (The Cape of Good Hope). Tôi hỏi hãng đại lý tàu thủy rằng món tiền phụ 20% đó có được trả lại không nếu rốt cuộc chiếc tàu có thể đi vượt qua Kinh Suez. Ông đó không biết chắc, nhưng ông nói trả tiền lại thì khó lắm, tại vì phải mua bảo hiểm cao hơn khi chiếc tàu đi qua Kinh Suez ngay sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, bởi vì tại vùng biển đó có nhiều thủy lôi và có nhiều tàu đã bị chìm rồi. Nhưng dù sao đi nữa, trên vé tàu sẽ có một câu nói rằng: “Vì tình hình tại Kinh Suez, công ty tàu thủy sẽ giữ lại hết thảy hay một phần của 20% tiền phụ này, và công ty sẽ có quyền quyết định về việc này.” Hôm đó đã là thứ sáu rồi, và chiếc tàu sẽ rời vào ngày thứ ba tuần sau. Bằng cách nào mà tôi có thể kiếm thêm số tiền phụ này?

Khi tôi trở về nhà trọ Lutheran, bà đó hỏi tôi đã mua vé tàu chưa. Khi tôi nói cho bà biết về 20% tiền phụ đó, thì bà kêu than rằng: “Khen ngợi Chúa Trời! Mọi việc đều tốt đẹp quá! Khi cậu đi rồi, thì tôi nhận được điện tín của chồng tôi, ông cho tôi hay rằng ông vừa gởi thêm một số tiền cho tôi. Ông không biết nguyên nhân tại sao, nhưng Chúa Trời đã chỉ thị cho ông nên gởi thêm số tiền này cho cậu. Ông nghĩ rằng cậu cần món tiền này. Đây là món tiền đó. Cậu hãy trở về hãng đại lý để mua vé đi!” Khen ngợi Chúa Trời vì những người dân của Ngài vui lòng theo đuổi đường lối của Ngài! Tôi từ Trung Quốc đến Hong Kong, và Chúa Trời sai một người từ nước Mỹ xa tận chân trời đến gặp mặt tôi ở Hong Kong để đưa tôi đi Âu Châu! Quí vị có thấy chưa? Quí vị có nghĩ rằng đây chỉ là tình cờ ngẫu nhiên chăng? Chúa Trời thì rất chân thật và kỳ diệu. Ngài phối hợp thời gian thật là hoàn hảo. Tôi rời Hong Kong vào ngày thứ ba, và bà cụ Tín Đồ kia trở về nước Mỹ vào ngày thứ tư.

Những Chuyện Kỳ Diệu Trong Cuộc Hành Trình Đi Âu Châu Bằng Tàu Biển

Chiếc tàu là tàu chở hàng và chỉ có 12 hành khách thôi. Tôi ở cùng một phòng với một người khách đi Singapore (Tân Gia Ba). Khi chiếc tàu đến gần Singapore, khi đường chân trời của Singapore càng ngày càng rõ, thì người này quỳ xuống cùng một lượt với tôi và giao phó cuộc đời của người cho Chúa.

Trong cuộc hành trình còn lại đi Âu Châu, tôi có cả một phòng riêng, tôi được nghỉ ngơi thiệt thoải mải và sức khỏe của tôi phục hồi lại. Trên chiếc tàu chở hàng thì mọi người đều là hành khách hạng nhất. Trên tàu tôi được ăn những món ăn ngon và bổ dưỡng, với lại tôi được nghỉ ngơi đầy đủ, Chúa Trời sắp đặt mọi việc để cho tôi phục hồi lại sức khỏe.

Ở Miến Điện những người công nhân đang có cuộc đình công, cho nên chiếc tàu ngừng lại một tháng để chờ đợi các hàng hóa trở đi Âu Châu. Kết quả là tôi ở trên tàu hai tháng trời nhưng tôi chỉ trả tiền một hành trình thường thôi. Khi tôi đến Âu Châu thì sức khỏe tôi đã phục hồi lại. Chúa Trời thấu hiểu tất cả mọi điều cần thiết của tôi.

Trong chuyến đi đó, những người hành khách thảo luận với nhau rằng họ có lấy lại được món tiền phụ 20% hay không. Họ hỏi ý kiến tôi, tôi nói tôi biết chắc rằng tôi sẽ lấy lại được món tiền đó. Họ lấy làm ngạc nhiên về câu trả lời của tôi, họ hỏi tại sao tôi lại biết. Tôi không thể giải thích cho họ, nhưng Chúa Trời đã cho tôi biết rằng tôi sẽ lấy lại được món tiền đó.

Khi chúng tôi đến Âu Châu rồi, chúng tôi xuống tàu rồi đến ngay văn phòng của công ty tàu thủy. Người đại lý cho tôi một tờ cheque với món tiền phụ 20% đó. Người kế tiếp cũng mong được một tờ cheque như vậy, nhưng ông đại lý từ chối không cho ông cái gì hết, tại vì đã ghi trong giao kèo rằng được hoàn lại món tiền hay không là hoàn toàn do công ty tàu thủy quyết định. Mười bạn hành khách của tôi ở lại văn phòng cả ngày, họ mong có thể lấy lại tiền phụ 20% đó, nhưng đều không được.

Chuyện hoàn lại món tiền phụ 20% này thì kỳ lạ lắm. Tôi trả tiền vé ở Hong Kong bằng đô-la Mỹ, và tôi nhận được tiền hoàn lại ở nước Nam Tư, nhưng món tiền hoàn lại đó không phải là tiền Hong Kong, cũng không phải là đô-la Mỹ, mà lại là tiền pound của nước Anh. Sau này tôi mới hiểu được tất cả những điều này đều do Chúa Trời sắp đặt sẵn.

Chúa Trời Hướng Dẫn Tôi Đi Học Tại Học Viện Kinh Thánh Ở Xứ Ê-cốt Của Nước Anh

Sau khi đến Âu Châu rồi, tôi đi Thụy Sĩ thăm má tôi liền, má vừa có một cuộc mổ xẻ rất nguy hiểm. Tôi chờ đợi coi Chúa Trời có chỉ dẫn cho tôi nên làm gì ở Âu Châu. Một hôm tôi đi Zurich thăm ông chủ tịch của Ngân Hàng Thụy Sĩ. Một người bạn ở Hong Kong cho tôi cái tên và địa chỉ của ông này. Ông là một Tín Đồ Cơ Đốc rất tốt, cả gia đình của ông đều rất tốt và khiêm nhường.

Khi tôi lên xe lửa rời Zurich, thì vợ của ông này cho tôi một cuốn tạp chí để đọc trên xe lửa. Tôi nhận lấy cuốn tạp chí và tạ ơn bà. Trên cái bìa đằng sau của tạp chí thì có trang quảng cáo của một học viện Kinh Thánh ở Ê-cốt. Tôi tự nhủ rằng, không chừng tôi nên xin vào học viện Kinh Thánh này.

Tôi không biết Chúa Trời muốn tôi làm gì. Ban đầu tôi muốn theo học kỹ sư, nhưng tôi càng ngẫm nghĩ thì càng thấy rằng tôi nên theo học tại một học viện Kinh Thánh trước khi tôi học những môn khác. Tôi cắt ra trang quảng cáo đó, rồi tôi xin vào học viện Kinh Thánh này ở Ê-cốt. Mãi cho đến tôi được nhận vào học viện này rồi, thì tôi mới hiểu được lý do tại sao trước kia tôi nhận được tiền phụ hoàn lại của vé tàu bằng tiền pound của Anh. Chúa Trời đã biết trước rằng tôi sẽ vào học viện Kinh Thánh này ở nước Anh. Khi tôi trả học phí cho nhà trường bằng tờ cheque đó, thì món tiền vừa đủ để trả học phí kỳ học đầu tiên. Chúa Trời thực sự đã sắp đặt  mọi việc hoàng hảo.

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa (1)

 Tôi Nhận Biết Chúa Trời Như Thế Nào 

Bài Làm Chứng Của Mục Sư Trương Hy Hòa

Tiểu Sử Của Mục Sư Trương Hy Hòa (viết bởi Bà Mục Sư Châu Huệ Hiền)

Mục sư Trương Hy Hòa là ông thầy của tôi. Chồng tôi và tôi theo học khóa huấn luyện Kinh Thánh của Mục sư từ năm 1989 – 1990. Mục Sư Trương Hy Hòa là người Trung Quốc, sanh ở Thương Hải vào năm 1934. Mục sư nhận biết Đức Chúa Trời vào năm 1953 sau một đợt sự kiện xảy ra trong cuộc đời của ông. Chúa Trời dắt đưa mục sư rời khỏi Trung Quốc vào năm 1956. Ông theo học tại Học Viện Kinh Thánh ở Glasgow, xứ Ê-cốt của nước Anh. Ông tốt nghiệp vào năm 1959. Ông hiệu trưởng của Học Viện Kinh Thánh khuyến khích ông Trương tiếp tục theo đuổi việc học tập Kinh Thánh. Rồi ông Trương đi Luân Đôn học tại Học Viện Kinh Thánh Luân Đôn. Ông Trương tốt nghiệp ở Đại Học Luân Đôn, chương trình Văn Chương và Thần Học.

Đức Chúa Trời hướng dẫn ông Trương đi trông nom một Hội Thánh ở Liverpool. Khi phụng sự ở Liverpool, ông Trương được thụ chức mục sư bởi ông hiệu trưởng của Học Viện Kinh Thánh ở xứ Ê-cốt. Vài năm sau mục sư Trương được mời đi trông nom một Hội Thánh ở Montréal, Canada, Chúa Trời ban phước cho phụng sự  của ông Trương, một Hội Thánh nhỏ của mục sư được phát triển thành ra một nhóm gồm chừng 25 Hội Thánh hôm nay. Qua ân điển của Chúa, các Hội Thánh này tiếp tục trưởng thành dưới quyền phép của Chúa Trời, Chúa Giê-su là Đầu của Hội Thánh.

Sau khi giới thiệu sơ qua tiểu sử của Mục sư Trương, bây giờ ta bắt đầu đi vào bài làm chứng của Mục sư Trương Hy Hòa, sau đây là lời tự thuật của Mục sư Trương.

Tôi Nhận Biết Đức Chúa Trời Như Thế Nào

Có nhiều người hỏi tôi về những kinh lịch của tôi trong Đức Chúa Trời, bởi vậy tôi nhân dịp này kể lại những kinh lịch đó để làm chứng cho Chúa. Hôm nay tôi sẽ nói về hai khía cạnh trong đời sống Tín Đồ Cơ Đốc của tôi: Tôi trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc như thế nào và tôi bắt đầu phụng sự Chúa như thế nào. Mà hai khải cạnh này thì không tách rời nhau được.

Khi các bạn và các anh chị em lắng nghe câu chuyện của tôi, tôi mong rằng quí vị hãy để ý vào những công việc Chúa Trời làm. Tôi sợ rằng khi người ta nghe những câu chuyện làm chứng cho Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su, thì người ta lại để ý vào người kể chuyện thay vì để ý vào Chúa. Nếu quí vị chỉ say mê nghe những kinh lịch đó thì quí vị sẽ không thấy được những sự kiện quan trọng. Nhưng nếu qua những chuyện Chúa Trời đã làm trong đời tôi mà quí vị cảm động và nói rằng: “Nếu Chúa Trời có thể làm những việc này cho ông này, thì Ngài cũng có thể làm những việc này cho tôi vậy.” Nếu quí vị nghe câu chuyện của tôi bằng một thái độ  như vậy thì mới là phải.

Có nhiều người sau khi đọc qua những kinh lịch của sứ đồ Phao-lô thì nói rằng: “Chỉ có những người vĩ đại như sứ đồ Phao-lô vậy mới có thể kinh lịch được Chúa Trời một cách kỳ diệu như thế. Chúa Trời không bao giờ làm những việc này cho tôi như Ngài đã làm cho sứ đồ Phao-lô vậy đâu!” Nếu quí vị nghĩ như vậy thì đọc Kinh Thánh làm chi nữa, bởi vì chẳng có điều gì trong Kinh Thánh có thể áp dụng trong cuộc đời của mình cả. Kinh Thánh sẽ thành ra một quyển sách biên soạn các sự kiện lịch sử của những vĩ nhân như Phao-lô và Ê-li. Nhưng sứ đồ Gia-cơ nói rằng: “Ê-li vốn là người có cùng một bản chất như chúng ta.” (Gia-cơ 5:17) Mà Ê-li này là một trong những tiên tri vĩ đại nhất. Chúa Trời đã nhận lời cầu nguyện của Ê-li trên núi Cạt mên và giáng lửa xuống từ trên trời để thiêu đốt của lễ dâng lên cho Ngài (1 Các Vua 18:38). Quí vị có hề nghĩ rằng không chừng Chúa Trời hy vọng quí vị cũng làm một việc tương tự như vậy chăng? Rốt cuộc Ê-li cũng là một người như chúng ta vậy thôi.

Rất lâu trước khi sự kiện ở Núi Cạt-mên xảy ra, Ê-li đã tuyên bố rằng ở Y-sơ-ra-ên sẽ không có mưa trong vài năm (1 Các Vua 17:1). Đó là một trừng phạt cho Y-sơ-ra-ên vì tội phản nghịch chống lại Chúa Trời. Chúa quả thật dừng mưa ở Y-sơ-ra-ên trong ba năm rưởi, mãi cho đến ngày đáng ghi nhớ trên Núi Cạt-mên (1 Các Vua 18:1, 45). Chúa Trời đã sử dụng một người có cùng một bản chất như chúng ta để đem Y-sơ-ra-ên trở về với Ngài. Nếu quí vị cầu nguyện như Ê-li vậy, Chúa Trời cũng có thể sử dụng quí vị y như thế. Trong thế hệ này, chúng ta rất cần những người biết đi cùng với Chúa Trời và Ngài có thể làm những công việc lớn bởi họ.

Tổ Phụ Tôi Và Ba Tôi

Bây giờ để tôi bắt đầu nói về gia đình tôi. Ông tổ phụ tôi sống ở tỉnh Phúc Kiến, cho dù ông sanh trong một gia đình nghèo khổ, nhưng nhờ sự cố gắng ông vẫn được tốt nghiệp đại học, điều đó là một thành tích vĩ đại ở Trung Quốc hồi đó. Đáng lẽ ông tổ phụ tôi có thể sống một cuộc đời giàu sang, nhưng ông từ bỏ tất cả những chuyện này mà đi truyền giảng Tin Lành, ông trở thành mục sư của Hội Thánh Trưởng Lão. Bởi vì mục sư được trả lương rất ít, cho nên ba đứa con trai và một đứa con gái của ông đều trưởng thành trong một hoàn cảnh nghèo khổ.

Cả ba đứa con trai của ông đều thông minh học giỏi, người xuất sắc nhất là ba tôi, Trương Thiên Trạch, con trai trưởng của ông. Cho dù ba tôi sanh ra và trưởng thành tại một gia đình Tín Đồ Cơ Đốc, ba tôi không tin ở Chúa Giê-su cả, ba tôi cũng không thích những chuyện thuộc linh. Ba tôi đã chán ngắt cuộc sống nghèo khổ lắm rồi, và ba quyết định theo đuổi một cuộc sống tốt hơn. Ba được nhận vào trường Đại Học Bắc Kinh miễn thi nhập học bởi vì điểm trung bình của ba là 97%. Khi ba tốt nghiệp ra trường Đại Học, thì ba phá kỷ lục điểm trung bình cao nhất của nhà trường. Rồi ba được gởi đi học bằng cấp thạc sĩ tại Đại Học Harvard ở bên Mỹ, và ba đã hoàn thành bằng cấp đó trong 9 tháng trời. Ba thấy rằng trường Đại Học Harvard không bằng những trường đại học ở Âu Châu, cho nên ba lại đi Âu Châu để tiếp tục theo học bằng cấp tiến sĩ.

Trí nhớ của ba rất hay, và ba có khả năng đặc biệt về ngôn ngữ. Ba học ngôn ngữ là để học chơi thôi. Ba học tiếng Pháp chỉ 3 tháng thôi mà ba có thể nói tiếng Pháp rất lưu loát đến nỗi người ta tưởng rằng ba đã tốt nghiệp tại một đại học Pháp, nhưng thực ra ba theo học tại Đại Học Sorbonne ở Paris chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thôi. Ba quyết định đi học tiếng Đức nữa, cho nên ba đi học tại Đại Học Heidelberg trong 3 tháng trời. Sau ba tháng, ba có thể nói tiếng Đức rất hay. Ba trở nên càng ngày càng kiêu ngạo và tự tin vào khả năng của mình. Bất cứ ba học ở trường nào, cho dù là Đại Học Harvard hay là tại Âu Châu, ba lần lượt nhận được một học bổng này sang một học bổng khác. Thực ra ba nhận được tiền học bổng nhiều đến nỗi ba có thể nuôi nấng hai em trai của ba vào đại học, và ba vẫn còn tiền dư lại để đi du lịch nước Mỹ bằng vé máy bay hạng nhất. Ba đã làm quen với một cuộc sống giàu có và thoải mải.

Thời Kỳ Thiếu Niên Ở Trung Quốc

Đó là gia đình tôi vậy. Thông minh tài năng của ba tôi đã tạo nên một hoàn cảnh tốt cho tôi để trau dồi học vấn, tôi là con một của ba tôi. Ba thích dùng trí óc để tìm hiểu và học hỏi, mà ba cũng yêu nước lắm. Điều mơ tưởng của ba là đem Trung Quốc ra khỏi tình trạng lạc hậu bảo thủ, khiến Trung Quốc trở nên hùng mạnh, hiện đại hóa, một Trung Quốc mới. Ba theo học Kinh Tế Học, bởi vì ba nghĩ rằng muốn xây dựng lại Trung Quốc thì phải bắt đầu bằng kinh tế, rồi sau đó mới là quân sự. Ba nghĩ rằng muốn xây dựng một nước cường thịnh và tân tiến thì cần phải có một nền tảng kinh tế vững mạnh.

Ba tôi cũng dạy dỗ tôi trở nên một người yêu nước lắm. Ba hay kể cho tôi nghe lịch sử vinh hiển của Trung Quốc trong thời cổ xưa. Ba đã gieo mối chống chủ nghĩa đế quốc và chống chủ nghĩa thực dân trong lòng tôi. Ba tức giận các nước ngoài đã nhân dịp Trung Quốc yếu đuối để cướp bốc và làm nhục Trung Quốc bằng những hiệp ước bất bình đẳng. Bởi vậy tôi trở nên rất thù nghịch người Tây Phương. Vì tôi trưởng thành tại Thượng Hải, tâm tình thù nghịch của tôi trở nên càng mãnh liệt hơn khi tôi thấy Thượng Hải bị chia làm nhiều khu vực cai tri của các nước ngoài: Nhượng địa cho Pháp, nhượng địa cho Anh, nhượng địa cho Nhật Bổn v.v. Không chừng quí vị từng thấy bức ảnh của một cái bảng đặt tại cổng vào của một công viên biên rằng: “Chó và người Trung Quốc cấm vào.” Ở đâu cũng có quân lính ngoại quốc cả. Có một lần tôi thấy một người lính Anh Quốc đá và đánh đập một người thợ may Trung Quốc. Tôi tự nhủ trong lòng tôi rằng: “Tụi bay hãy chờ coi, một ngày nào đó tôi sẽ dạy tụi bay một bài học.”

Tôi cũng yêu nước như ba tôi vậy, nhưng chí hướng của tôi thì khác với chí hướng của ba tôi. Ba thì nhấn mạnh về thiết lập một nền tảng kinh tế vững vàng, nhưng tôi thì nhấn mạnh về thiết lập một quân đội hùng mạnh. Tôi dùng tất cả tiền tiêu vặt của tôi để mua sách về khoa học quân sự. Tôi nghiên cứu cuộc đời của Chu Cách Lượng trong chuyện “Tam Quốc Chí” và tôi hâm mộ ông này lắm.

Tôi theo học võ thuật bởi vì tôi nghĩ rằng rèn luyện thân thể mạnh mẽ để nêu gương cho người khác là  quan  trọng lắm. Qua sự huấn luyện về võ Giu-đô và quyền thuật Anh, thân thể tôi trở nên rất vạm vỡ. Tôi luyện tập nhiều cuộc thể thao để trau dồi thân thể. Để đạt được tài năng lãnh đạo, một mình tôi tổ chức và huấn luyện một đội bóng chày. Hồi đó tôi không biết gì về bóng chày cả, tôi tìm được một quyển sách về bóng chày và tôi tự học kỹ thuật của cuộc thể thao này. Rồi tôi huấn luyện một vài con trai không biết gì về bóng chày cả. Trong vòng hai năm chúng tôi đã chơi trong đội hạng “A” và thách thử đội xuất sắc nhất ở Thượng Hải. Bí mật của chúng tôi là gì? Đó là thái độ hiến dâng và tinh thần đồng đội.

Tôi tự trau dồi con người tôi không những về thể chất và trí tuệ, mà còn về phương diện thuộc linh nữa. Tôi để ý rằng Chu Cách Lượng và những anh hùng của Trung Quốc thời xưa thì rất giỏi về thiên văn học và chiêm tinh học. Họ có thể nhìn vào những ngôi sao trên trời mà dự đoán những việc trong tương lai một cách chính xác. Bởi vậy tôi quyết định cũng đi nghiên cứu các ngôi sao. Có một lần tôi tìm được một quyển sách về chiêm tinh học, trong đó dự đoán rằng nước Mỹ sẽ tham dự vào một cuộc chiến tranh lớn vào cuối năm 1941. Rồi tôi thấy quyển sách này in vào năm 1935! Tôi rất kinh ngạc về tầm chính xác như vậy, cho nên tôi nghiên cứu quyển sách này rất kỹ lưỡng. Tôi học được rất nhiều về chiêm tinh học đến nỗi tôi có thể nhìn vào bộ mặt của một người và nói ra được người này sanh vào tháng nào. Người ta rất ngạc nhiên vì tôi có thể nói ra những chuyện của người khác và nhiều sự kiện khác nhau. Cho nên tôi biết rằng chiêm tinh học cũng khá linh nghiệm. Có những thầy bói chỉ là lừa gạt người ta bằng kỹ thuật giả, nhưng cũng có những người thật sự biết rất nhiều về chiêm tinh học. Lẽ dĩ nhiên tôi đã từ bỏ cái nghề này khi tôi trở thành một Tín Đồ Cơ Đốc, bởi vì Kinh Thánh cảnh cáo chúng ta rằng đừng chơi bời những việc liên quan đến thuyết thông linh.

Tôi thấy tôi ngủ nhiều quá, cho nên tôi giảm bớt thời gian đi ngủ để có nhiều thì giờ học tập khoa học quân sự. Quí vị thấy tôi là một con người như thế nào, quả quyết và có kỷ luật. Qua sự huấn luyện về trí óc và thể chất, cộng thêm kiến thức về chiêm tinh học, tôi đang sửa soạn cuộc đời của mình để đạt được chí hướng của tôi.

Nhưng tôi lại trở nên càng ngày càng chống đối Tín Đồ Cơ Đốc, một phần là vì ba tôi đã kể cho tôi nghe những chuyện các chính phủ ngoại quốc đã làm ở Trung Quốc. Ba tôi nói rằng có nhiều người truyền giáo đến Trung Quốc dưới chiêu bài công việc truyền giáo, nhưng thực ra họ là người trinh sát sai đi bởi các chính phủ ngoại quốc để thăm dò những khu vực ở Trung Quốc và để thu thập tài liệu về tình trạng quân sự và kinh tế ở Trung Quốc.

Trong những năm nội chiến, ba tôi lãnh một chức vụ rất cao trong chính phủ ở Nam Kinh. Trung tâm hành chánh của ba tôi ở Nam Kinh thì hình như là một vương quốc nhỏ. Trung tâm này có quân lính riêng biệt canh giữ, có hành lũy bao vây xung quanh và có máy phát điện riêng. Có vài đội quân lính và hai thiếu tướng chỉ huy quân lính dưới quyền của ba. Tôi trưởng thành trong một hoàn cảnh tôi được hưởng thụ quyền lợi hầu như không hạn chế. Tuy rằng tôi chỉ mười mấy tuổi thôi, nhưng quân lính phải chào tôi mỗi khi tôi đi qua, và những nhân viên chính phủ phải đón tiếp tôi. Nếu tôi muốn đi từ Thượng Hải đến Nam Kinh, những nhân viên cao cấp sẽ đến nhà tôi ở Thượng Hải để đưa tôi đi trạm xe lửa bằng xe hòm của chính phủ. Khi tôi đến Nam Kinh rồi, thì một nhóm nhân viên khác sẽ hộ tống tôi đến văn phòng của ba tôi. Cái đặc quyền và quyền lực mà tôi được hưởng đã gây một ảnh hưởng rất xấu cho một người trẻ tuổi như tôi vậy.

Rồi cuộc nội chiến giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Công Sản ngày càng mãnh liệt. Quốc Dân Đảng đã lần lượt thua nhiều trận chiến, Đảng Cộng Sản đang tiến vào miền Nam. Ba tôi phải lập quyết định là đánh hay rút lui. Lúc đó ba tôi đã chán ghét sự tham nhũng lan tràn trong Quốc Dân Đảng. Một phần lớn của quân đội của Quốc Dân Đảng là bán độc lập, họ không chịu sự điều khiển của chính phủ trung ương, và nhiều người lạm dụng cái đặc tính bán độc lập này. Ba tôi đã chán ngắt sự tham nhũng đầy dẫy ở Trung Quốc. Và ba tôi chống cự lại sự tham nhũng, cho nên đã gây nên tranh chấp với những nhân viên chính phủ. Khi chỉ đạo viên của ba là Vương Vân Ngũ từ chức, ba tôi cũng nhân dịp đó từ chức cùng một lượt với vài nhân viên khác. Sau khi ba tôi từ chức rồi, chẳng bao lâu thì Đảng Cộng Sản đến Thượng Hải.

Sau Khi Đảng Cộng Sản Giải Phóng Trung Quốc

Đảng viên của Quốc Dân Đảng chạy trốn tan tành khi Đảng Cộng Sản đến, nhưng ba tôi không muốn đi. Ba tôi nói rằng: “Lý lịch của tôi là hoàn toàn trong sạch. Tôi không có làm việc gì chống lại nhà nước của tôi cả. Tôi không có làm việc gì xấu xa hết. Tôi đã đánh giặc Nhật Bổn. Tôi đã phụng sự nhà nước tôi. Nếu mà Đảng Cộng Sản muốn giết tôi thì để họ giết cho, nhưng họ phải nói cho tôi biết tôi đã phạm tội gì.” Quả nhiên, khi Đảng Cộng Sản vào Thượng Hải, họ không quấy rầy chúng tôi bao giờ. Ngày nào ngày nấy cũng có người bị giết đi, nhưng họ cứ để chúng tôi sống yên ổn, bởi vì sở chỉ huy của Đảng Cộng Sản đã nhận được một báo cáo tốt về ba tôi. Họ thấy lý lịch của ba hoàn toàn trong sạch, ba không hề làm việc gì chống lại nhà nước hay là chống lại Đảng Cộng Sản.

Sau này họ muốn mời ba tôi lãnh một chức vụ trong chính phủ, nhưng ba từ chối. Rồi sau đó họ lại mời ba tôi đi dạy ở Đại Học Bắc Kinh, nhưng một lần nữa ba lại từ chối. Nhưng bất cứ tình hình ra sao, ba tôi quyết định ở lại Trung Quốc để coi bằng chính mắt của mình Đảng Cộng Sản sẽ xây dựng nước Trung Quốc mới như thế nào. Cho nên cả gia đình ở lại Trung Quốc. Năm 1952 má tôi phải rời khỏi Trung Quốc vì mắc bịnh lao phổi. Sau cùng ba tôi quyết định rời khỏi Trung Quốc, nhưng họ không cho ba đi. Rồi ba tìm được một cơ hội rời khỏi Trung Quốc vào năm 1953. Cho nên tôi ở lại Trung Quốc một mình, không tiền bạc, không tài sản gì hết. Giấc mơ tưởng xây dựng một Trung Quốc mới của tôi đi đâu rồi?

Tôi phải quyết định nên làm gì cho tương lai của mình mới phải. Đảng Cộng Sản đã thống trị cả nước Trung Quốc rồi, mà tôi sẽ làm gì trong đời tôi sau này? Một là đi theo Đảng Cộng Sản và làm việc phụng sự cho họ suốt đời. Tôi có thể gia nhập quân đội và tôi sẽ được thăng chức rất nhanh. Bởi vì tôi đã học xong chương trình trung học, nếu tôi gia nhập quân đội thì tôi có hạng sĩ quan ngay lập tức. Thực ra tôi có thể gia nhập quân đội của Đảng Cộng Sản để  thành tựu được một phần của mộng tưởng của tôi.

Nhưng tôi không muốn giả bộ. Trừ phi một người thực sự tin tưởng vào chủ nghĩa Cộng Sản, bằng không người đó không thể trở thành một đảng viên Cộng Sản chân chính. Dù thế nào đi nữa, tôi cảm thấy rằng tôi nên tìm hiểu về lý thuyết của chủ nghĩa Cộng Sản để biết rõ hơn, cho nên tôi bắt đầu đọc sách về Duy Vật Biện Chứng Pháp và những sách về lịch sử của Đảng Cộng Sản. Tôi đã biết sơ sơ về khoa học quân sự, tôi thấy lịch sử của Đảng Cộng Sản Trung Quốc rất hấp dẫn, nhất là những chiến lược và chiến thuật lỗi lạc của Mao chủ tịch.